Banner tet am lich

Thứ Bảy, 12 tháng 1, 2013

HOÀNG ĐẾ NỘI KINH TỐ VẤN - tập 1


TIỂU DẪN ________________________________________________________________________

by tập 1

Cov­er
TIỂU DẪN ________________________________________________________________________
HOÀNG ĐẾ NỘI KINH
TỐ VẤN
Tri kỳ yếu dã nhất ngôn nhi chung,
Bất tri kỳ yếu lưu tán vô cùng.
Chú giải : Mã Nguyên Đài
Dịch thuật : Liên Tâm Lão Nhân
Nguyễn Tử Siêu
(22.5.Quí Tỵ - 02.7.1953)

TIỂU DẪN ________________________________________________________________________

TIỂU DẪN
TỐ VẤN là một bộ sách do vua HOÀNG-​ĐẾ cùng với những vị bầy tôi là KỲ-​BÁ, QUỶ-​DU-​KHU, BÁ-​CAO, THIẾU-​SƯ, THIẾU-​DU, LÔI-​CÔNG, lúc bình nhật cùng vấn đáp mà biên tập nên. Sách BẢN-​KỶ có chép : “ HOÀNG-​ĐẾ hỏi KỲ-​BÁ mà làm thành NỘI-​KINH ”. chính là bộ này. Nhưng xét trong sách này, phần nhiều là lời nói của KỲ-​BÁ cho nên trong BẢN-​KỶ không chép đến tên của bầy tôi khác.
Lại xét ngoài 81 thiên của bộ TỐ-​VẤN, lại còn 81 thiên của bộ LINH-​KHU …… giờ nhận thấy trong TỐ-​VẤN có những câu dẫn “ kinh nói rằng : …vv….” Đều là lời ở trong LINH-​KHU thời đủ biết rằng : bộ LINH-​KHU thời soạn trước, mà TỐ-​VẤN soạn sau.
Trong TỐ-​VẤN chỉ lấy danh hiệu Thiên-​Sư-​Phu-​Tử để tôn xưng KỲ-​BÁ … còn QUỶ-​DU-​KHU với các bầy tôi khác thời không thấy gọi ai như vậy. Đến như LÔI-​CÔNG thời lại tự xưng là Tiểu Tử, Tế Tử , mà HOÀNG-​ĐẾ cũng có khi ban lời dạy bảo. Có lẽ học lực của Lôi Công chưa bằng các vị kia mà tuổi cũng còn ít hơn cả chăng ?
Vã có những danh từ : Công, Bá, Sư … tựa như là đều lấy tước hiệu để gọi. Tức như ở thiên BẢO-​MỆNH-​TOÀN-​HÌNH-​LUẬN có chỗ xưng là Thiên Tử, Quân Vương ; thiên DI-​TINH-​BIẾN-​KHÍ LUẬN, thiên NGŨ-​THƯỜNG-​CHÍNH-​ĐẠI-​LUẬN, thiên LINH-​KHU-​QUAN-​NĂNG .vv… đều xưng là Thánh Vương. Thiên CHỨ-​CHÍ-​GIÁO-​LUẬN, thiên SƠ-​NGŨ-​QUÁ-​LUẬN có câu nói : “Phong quân hầu vương ..” thiên SINH-​CĂN-​KẾT có những danh từ như Vương, Công, Đại nhân vv… ; vậy thời đó là tước hiệu không còn ngờ gì nữa. Đến như QUỸ-​DU KHU, THIẾU-​DU, BÁ-​CAO … đều là tên chư thần mà thôi.
Đời sau ông Trình-​Tử có nói : “TỐ-​VẤN do tay các công tử nước Hàn soạn ra” . Cũng có người cho là do các nho gia đời Tiên Tần soạn…. Đó đều là nệ về những danh từ tước hiệu mà không xét kỹ toàn thư, nên ức thuyết như vậy. Giờ xét ở những thiên LỤC-​TIẾT-​TÀNG-​TƯỢNG-​LUẬN, THIÊN- -NGUYÊN-​ĐẠI-​LUẬN, NGŨ-​VẬN-​HÀNH-​ĐẠI-​LUẬN, LỤC-​VI-​CHỈ-​ĐẠI-​LUẬN, KHÍ-​GI­AO-​BIẾN-​ĐẠI- LUẬN, NGŨ-​THƯỜNG-​CHÍNH-​ĐẠI-​LUẬN, LỤC-​NGUYÊN-​CHÍNH-​KỶ-​ĐẠI-​LUẬN, CHÍ CHÂN-​YẾU-​ĐẠI- LUẬN … bàn về Thiên đạo, Lịch pháp, vạn tượng, nhân thân, kinh lạc, mạch thể, nhân sự, trị pháp, lời có ý sâu … không loại sách Chư tử nào có thể ví kịp, thật đúng là chỉ bậc Thiên thần chí thánh mới có thể soạn nổi.
Ngu này thiết nghĩ “Thượng đế lúc nào cũng nhân ái muôn dân ; mà làm hại sinh mệnh cùa muôn dân là bịnh, muốn trị bịnh phải nhờ ở sách…… nhưng im lặng không nói nên giáng sinh bậc Thần thánh để nói thay, và sớm soạn ra bộ sách này để cứu sinh mệnh cho muôn dân.”
Phương như, LỤC-​THƯ chế ra từ thời PHỤC-​HY, Y Dược bắt đầu từ thời THẦN-​NÔNG… mà từ thời Phục-​Hy đến Hoàng-​Đế có linh nghìn năm; phàm việc văn tự, chế tác chắc đã rõ ràng lắm. Sách NGOẠI-​KỶ, BẢN-​KỶ đều chép : “HOÀNG ĐẾ đặt quan, cử tướng, xét lịch, làm nhạc, chế ra côn miện, thuyền xe ; cắt dã, chia châu, xẻ đất ruộng, đặt tỉnh điền, trồng trăm giống lúa, xây đắp thành quách….. Phàm tước hiệu, văn tự, lúc đó đã đều đủ. Lại trãi qua các họ KIM-​THIÊN, CAO- DƯƠNG, CAO-​TÂN linh ba trăm bốn mươi năm mới đến nhà ĐÀO-​ĐƯỜNG (NGHIÊU). Vậy bao các chế tác người đời sau chỉ biết hai họ Đường (NGHIÊU) Ngu (THUẤN) là thịnh hơn cả… Nhưng có biết đâu gây từ HY-​HOÀNG dần dà cách thời kỳ đó đã lâu lắm rồi. Sau lại riêng đối với SỬ THƯ, LINH-​KHU, TỐ-​VẤN mà còn ngờ vực nữa ru ?”
Đến đời XUÂN THU Tần-​Việt-​Nhân soạn ra NẠN KINH nhận lầm Tam Tiêu, Dinh, Vệ và chứng Quan cách ; đó là người làm mờ tối mất nghĩa của NỘI KINH. Hoàng-​Phủ-​Bật đời Tấn biên làm GIÁP ẤT KINH, phần nhiều trích ở LINH KHU, không phát minh được nghĩa nào. Đời Đường khoản niên hiệu BẢO ỨNG, Khải-​Huyền-​Tử và Vương-​Băng có chú thích, nhưng cứ theo từng câu để giải nghĩa, gặp chỗ nào ngờ thì bỏ qua, chương tiết không chia, trước sau lẫn lộn. Đời Nguyên, Hoạt-​Bá-​Nhân soạn bộ ĐỘC TỐ VẤN SAO, phần nhiều chỉ theo chú giải họ Vương, không phát minh được nghĩa gì. Chỉ về khoản năm Gia Hựu đời Tống, triều đình sắc cho bọn Cao Bảo Hành hiệu đính lại, có nhiều chỗ giúp ích cho Vương-​thị, duy vẫn cứ theo chia làm 24 quyển, rất sai với cái nghĩa soạn sách của Thánh nhân.
ÁN : Ban cổ soạn thiên NGHỆ VĂN CHÍ có chép rằng :”HOÀNG ĐẾ NỘI KINH 18 quyển, TỐ VẤN 9 quyển, LINH KHU 9 quyển”
LẠI ÁN : thiên LY-​HỢP-​CHÂN-​TÀ-​LUẬN trong Tố Vấn có chép : “Hoàng Đế nói: Nghĩ như CỬU CHÂM 9 thiên, Phu Tử lại nhân làm 9 lần, 9 lần 9 thành 81 thiên để theo với số của Hoàng Chung”. Đại để Kinh điển của các bậc Thần thánh phần nhiều dùng số 9. 9 nhân với 9 thành 81 thiên. Giờ đây Ngu này chia làm 9 quyển cũng chỉ là theo cái di-​ý của Thần thánh mà thôi.
Trộm nghĩ Thánh, phàm các bậc, cổ kim khác đời, ngu này sở dĩ không tự lượng mà dám lạm chú thích bộ này, chẳng qua e cho đời sau mờ tối không hiểu nghĩa lý của Thánh nhân, nên mới quản khuy ly trắc…….hoặc công, hoặc tội, tôi nào có e ngại gì chỗ đó ……
MÃ NGUYÊN ĐÀI
TIỂU DẪN ________________________________________________________________________
MỤC LỤC

TIỂU DẪN
CHƯƠNG 1 - THƯỢNG CỔ THIÊN CHÂN LUẬN
CHƯƠNG 2 - TỨ KHÍ ĐIỀU THẦN LUẬN
CHƯƠNG 3 - SINH KHÍ THÔNG THIÊN LUẬN
CHƯƠNG 4 - KIM-​QUỸ CHÂN NGÔN LUẬN
CHƯƠNG 5 - ÂM-​DƯƠNG ỨNG TƯỢNG ĐẠI LUẬN
CHƯƠNG 6 - ÂM-​DƯƠNG LY-​HỢP LUẬN
CHƯƠNG 7 - ÂM-​DƯƠNG BIỆT LUẬN
CHƯƠNG 8 - LINH-​LAN BÍ ĐIỂN LUẬN
CHƯƠNG 9 - LỤC TIẾT TÀNG TƯỢNG LUẬN
TIỂU DẪN ________________________________________________________________________
CHƯƠNG 1
THƯỢNG CỔ THIÊN CHÂN LUẬN (1)
KINH VĂN ________________________________________________________________________
HOÀNG ĐẾ (2) hỏi Thiên Sư (3)rằng :
- Trẩm nghe người đời Thượng cổ đều sống tới linh 100 tuổi mà sức khỏe không kém sút; Đến người đời nay tuổi mới 50 mà sức khỏe đã kém sút. Đó là vì thời thế khác chăng ? Hay là lỗi tại người chăng ?
Kỳ Bá thưa rằng :
- Về đời Thượng Cổ, những người biết ĐẠO (4)bắt chước ở Âm Dương, điều hòa với thuật số (5) uống ăn có mực, khởi cư có thường, không làm quá sức, cho nên giữ gìn được hình hài và tinh thần, sống trọn số trời, linh 100 tuổi mới thác (6).
Người đời nay thì không thế : lấy rượu thay làm nước uống, lấy càn bậy làm sự thường; đương lúc say lại nhập phòng (7), do lòng dục làm kiệt mất tinh, hao tán mất khí chân nguyên, không biết gìn giữ cẩn thận,không biết điều dưỡng tinh thần, chỉ cốt cho được khoái tâm (8) , làm trái ngược cái thú của sự dưỡng sinh, khởi cư không có điều độ … cho nên mới độ nửa trăm tuổi đã rất là suy yếu.
Bậc Thánh nhân đời Thượng cổ đã răn dạy người dưới biết xa lánh hư tà tặc phong (9) , trong lòng điềm đạm hư vô (10) ; Chân khí thuận theo, tinh thần bền vững, bịnh do đâu mà sinh ra được, vì vậy nên chí nhàn mà ít dục, tâm yên mà không sợ, hình mệt mà không quá, chân khí đều hòa, mọi sự đều được thỏa mãn, mãn nguyện (11) .
Ăn đã đủ ăn, mặc lại đủ mặc ; phong tục vui vẻ, trên dưới êm hòa, không hề ganh tỵ … Nên dân thời kỳ đó gọi là PHÁC (12) .
Do đó những điều dâm tà không thể làm bận lòng họ ; những điều ham muốn không thể làm mõi mắt họ. Kẻ ngu người khôn, người hay kẻ kém, không phải sợ đến ngoại vật, nên mới hợp với Đạo…. Vì thế, nên mới có thể sống linh 100 tuổi mà sức khỏe vẩn không kém sút … Đó là bởi “ĐỨC TOÀN” vậy (13) .
CHÚ GIẢI :________________________________________________________________________________

(1)_ Những tên thiên ở đây phần nhiều trích một vài chữ trong bài để đặt. Bốn thiên ở đầu bộ này đều đặt bàn về phương pháp điều dưỡng “TINH, THẦN, KHÍ, HUYẾT”…..
(2)_ Theo Sữ ký : Hoàng Đế họ Công Tôn, tên là Hiên Viên, là con vua nước Hữu Hùng, nối vua Thần Nông, lên làm vua, trị thiên hạ; đóng đô ở gò Hiên Viên, vượng về Thổ-​đức, nên gọi là HOÀNG ĐẾ.
(3)_ danh từ tôn xưng Kỳ-​Bá.
(4)_ ĐẠO tức là cái phương pháp điều dưỡng tinh thần khí huyết.
(5)_ Thuật số : tức là cái phương pháp bắt chước ở Âm Dương. Âm Dương là cái gốc của vạn vật, thuận với nó thời sống, trái với nó thời chết. Cho nên cần phải điều hòa mà thuận theo nó.
(6)_ Khởi cư có thường : thời nuôi được THẦN, không làm quá sức thời nuôi được TINH – Thần với Tinh đầy đủ lo gì không sống lâu.
(7)_ Rượu làm hại TỲ; Tỳ khí bị thương thời không tiêu hóa được thức ăn, sinh khí vì đó mà bị thương ; làm càn bậy thời thương THẦN ; say rượu nhập phòng thời thương TINH. Như thế làm gì mà không chóng chết.
(8)_ Tâm chứa THẦN, khoái tâm thời Thần bị thương.
(9)_ Hư tà tức khí độc, Tặc phong tức là gió độc.
(10)_ Lão Tử nói : “Trong xem Tâm mình, tâm không có gì là tâm ; ngoài xem hình mình, hình không có gì là hình ; xa xem muôn vật, vật không có gì là vật …. Ba điều đó đã hiểu thấu, thời chỉ còn thấy có KHÔNG. Rồi xem KHÔNG cũng không, không không còn không. Cái Không đã VÔ, Vô vô cũng vô ; vô vô đã vô, trong trẽo thường lặng. lặng không còn lặng, DỤC sinh sao được ; Dục đã không sinh, tức là “CHÂN TĨNH” . Chân thường ứng với vật, chân thường hợp với TÍNH, thường ứng thường tĩnh, sẽ được thường thanh tĩnh….” Đoạn nói của Lão Tử trên đây thật là một phương pháp xem “KHÔNG” rất hay. Đem mà giải thích bốn chữ “ ĐIỀM ĐẠM HƯ VÔ” trên này cũng rất đúng.
(11)_ Vì điềm đạm hư vô nên mới chí nhàn mà ít dục, vì tinh thần bền vững nên mới Tâm yên mà không sợ ; Dân khắp bốn phương đều được an cư lạc nghiệp, nên mới mãn nguyện.
(12)_ Dân chúng đã biết vâng theo lời dạy của người trên, nên mọi sự đều cứ tới “mực” đủ thời thôi không hề ham muốn sa hoa, cho nên phong tục mới được vui vẻ ; không còn sự ngờ vực, ghen ghét. Do đó , người trên không hiếp kẻ dưới, kẻ dưới không ghen ghét người trên ; không còn ai làm điều gì quá cái phạm vi địa vị của mình. Dân như thế đã thuộc vào hạng thành thực và chất phát – Nghĩa chữ “PHÁC” có vẻ như quê mùa mà thành thật, khác với tiếng “quê mùa” mà ta thường dùng.
(13)- ĐỨC tức là “MINH ĐỨC” của Trời phú cho, “TOÀN” tức là không để vật dục nó làm hại tới – Trang Tử nói : “Người giữ ĐẠO thời ĐỨC TOÀN, Đức toàn thời Hình toàn, Hình toàn tức là hợp với Đạo của Thánh nhân vậy”.
Từ đoạn này trở lên ông Kỳ Bá đã giải được, trả lời Hoàng Đế được đầy đủ về cái cớ người xưa sống lâu.



KINH VĂN ________________________________________________________________________
Hoàng Đế hỏi :
- Người đến tuổi già thời không sinh con, vì tinh lực hết chăng ? hay tại số Trời ?
Kỳ Bá thưa :
- Con gái 7 tuổi thời Thận-​khí đầy đủ, răng đổi tóc dài, hai lần 7 (14 tuổi) thời Thiên quý (1) sinh ra, Nhâm mạch thông, Thái xung mạch thịnh (2)kinh nguyệt đúng kỳ xuống (3) nên mới có con – Đến năm ba bảy (21 tuổi) Thận khí điều hòa, chân nha mọc hết (4) – Đến năm bốn bảy (28 tuổi) gân xương đều bền rắn, tóc dài hết mực, thân thể khỏe mạnh – Đến năm năm bảy (35 tuổi) Dương minh mạch suy, vẻ mặt bắt đầu khô khan, tóc bắt đầu rụng (5) – Đến năm sáu bảy (42 tuổi) mạch của 3 kinh Dương suy kém ở trên, vẻ mặt khô khan hẳn, tóc bạc (6) – Đến năm bảy bảy (49 tuổi) Nhâm mạch hư, Thái-​xung mạch kém sút, Thiên-​quý hết, địa đạo không thông, cho nên thân thể hao mòn mà không có con. (7)
- Con trai 8 tuổi thời Thận-​khí đầy đủ, tóc dài răng đổi (8) – đến năm hai lần tám (16 tuổi) Thận-​khí thịnh, Thiên quý đến, tinh khí đầy tràn, Âm Dương hòa nên mới có con (9) – đến năm ba tám (24 tuổi) Thận-​khí đều hòa gân xương cứng mạnh, chân nha mọc hết – Đến năm bốn tám (32 tuổi) gân xương đầy đủ, cơ nhục nở nang – Đến năm năm tám (40 tuổi) Thận-​khí suy dần, tóc rụng răng se (10) – Đến năm sáu tám (48 tuổi) Dương-​khí suy kiệt ở trên, vẻ mặt khô khan, râu tóc lốm đốm trắng – Đến năm bảy tám (56 tuổi) Can-​khí suy, sự cử động của gân yếu, Thiên quý hết, tinh ít, Thận tạng sút, toàn thân mõi mệt (11) – Đến năm tám tám (64 tuổi) răng tóc đều rụng.
Thận chủ về THỦY (nước), chứa đựng TINH của 5 tạng 6 phủ - Năm Tạng có đầy đủ (thịnh) mới có thể tả ra. Giờ 5 tạng đều suy, gân xương rã rời, Thiên quý hết rồi, cho nên râu tóc bạc, thân thể nặng nề, đi đứng không vững mà không có con (12) .
CHÚ GIẢI :________________________________________________________________________________
(1)_ THIÊN QUÝ cũng như THIÊN ẤT, đều là chất nước, tức là huyết, là kinh nguyệt. Đàn bà chủ về việc sinh đẻ, thuộc ÂM, mặt trăng cũng thuộc âm. Mặt trăng có khi tròn khi khuyết, nên Thiên quý cũng theo đó mà đúng kỳ tiết ra, nên gọi là KINH NGUYỆT.
(2)_ THÁI-​XUNG : nhâm mạch là 2 thứ mạch thuộc kỳ kinh
(3)_ Hai mạch này đều phát sinh từ Tiểu Phúc, do bụng dẫn lên làm một nơi để chứa kinh huyết gọi là HUYẾT HẢI – Nhâm mạch chủ về ràng buộc bào thai, Xung-​mạch chủ về huyết hải – Giờ 2 mạch đều đã thông, nên kinh nguyệt mới đúng kỳ xuống mà thụ thai.
(4)_ CHÂN NHA tức là một thứ răng thực, răng mọc sau nhất, chân nó rất sâu – THẬN KHÍ : là một thứ khí do Thận sinh ra – Khí sinh ra bởi TINH, cho nên Thiên quý đến trước rồi Thận khí mới điều hòa đầy đủ ; đến lúc đó chân-​nha mới mọc.
Lại án : con gái sinh theo số 7 như trên, 7 thuộc về số của THIẾU DƯƠNG – Con gái thuộc Âm, mà tính theo số Dương đó là trong Âm có Dương (trung Âm hữu Dương).
(5)_ Mạch của kinh Dương Minh dẫn lên mặt, vòng lên đầu tóc ; cho nên đến lúc suy thời vẻ mặt thành ra khô khan và tóc rụng – Phàm khí thuộc về Dương mà huyết mạch thuộc về Âm, cho nên về con gái thời mạch suy trước mà con trai thời khí suy trước.
Lại án : đường mạch của kinh Túc Dương Minh hợp với 2 mạch XUNG-​NHÂM, vòng qua rốn mà đi lên – Nên chi khí Xung-​Nhâm đã hư thời Dương Minh cũng phải hư.
(6)_ Mạch của 3 kinh Dương đều dẫn lên đầu, đến khi mạch đó đã suy thời vẻ mặt tất phải khô mà tóc tất phải bạc.
(7)_ ĐỊA ĐẠO : Tức là những mạch thuộc về hạ bộ - Bộ phận dưới ; Lại như thiên TAM BỘ CỮU HẬU nói : “hạ bộ tức chỉ kinh Túc Thiếu Âm THẬN. Thiên quý chứa ở Thận, đến khi Thiên quý hết, tức là các đường mạch của Túc Thiếu Âm thuộc về bộ phận dưới không thông, do đó mới thân thể hao mòn mà không có con.”
(8)_ “TÁM” là số của Thiếu Âm ; con trai vốn là Dương mà lại tính theo Âm số, đó là trong Dương có Âm.
(9)_ LINH KHU KINH nói : “Xung mạch, Nhâm mạch đều phát sinh từ trong “BÀO” , dẫn lên phía trong “PHÚC” bên hữu phúc dẫn lên họp ở Yết hầu, chẽ ra dưới miệng và chung quanh môi – Người huyết khí đầy thịnh thời tràn tới ngoài da, làm nóng trong thịt. Người thịnh riêng thời về huyết thống tới ngoài da, mọc thành lông nhỏ. Người đàn bà khí có thừa mà huyết thời thiếu (vì thường tiết ra nguyệt kinh) ; khiến 2 mạch Xung-​Nhâm không đầy đủ ở chung quanh miệng nên mới không có râu”.
Án : Thiên quý tức là ÂM TINH, cho nên tinh khí của con trai cũng gọi là Thiên quý. Như VƯƠNG BĂNG nhận Thiên quý là huyết, thời Thiên quý của con trai cũng là huyết hay sao ? thuyết đó không đúng.
(10)_ Thận là nơi gốc của sinh khí – Con trai suy về bên Khí trước, nên khi Thận-​khí suy thời tóc rụng răng se.
(11)_ CAN do THẬN sinh ra (tức Thủy sinh Mộc). Thận-​khí suy cho nên mới lây sang Can. Can chủ về GÂN, vì Can-​khí suy nên sự cử động của gân phải yếu. Thận chủ về XƯƠNG ; giờ gân với xương đều suy, cho nên toàn thân mới mõi mệt.
(12)_ Đoạn này nói rõ thêm cái nghĩa Thiên quý của Tiên thiên, phải nhờ sự giúp ích do tân-​dịch cùa Hậu-​Thiên, vì 5 vị vào TỲ đều dẫn tới cái nơi sở thích của nó. Thận là thủy tạng, thu hút và chứa các chất tinh-​dịch của 5 Tạng rồi lại tán bố ra. Chất ấy dẫn lên TÂM, hóa sắc đỏ thành ra máu, máu ấy dẫn tới 2 mạch Xung-​Nhâm làm thành cái biển chứa kinh huyết để nuôi cơ nhục và mọc ra tóc lông. Cho nên về bên con trai, khi thiên-​quý đã đến thời tinh khí đầy tràn, hóa đỏ làm ra máu dẫn ra Xung-​Nhâm mà mọc râu ria. Còn bên con gái, khi Thiên quý đến thì kinh nguyệt đúng kỳ dẫn xuống. Vậy Tinh với Huyết đều gọi là THIÊN QUÝ.
Án : kinh nói :” con đường của VINH HUYẾT chủ ở sự ăn uống. Thức ăn vào VỊ rồi truyền lên PHẾ, tràn ngập ở bên trong, phân tán ra bên ngoài. Cái chất tinh khiết hơn nhất thường lưu thông ở trong kinh (lạc) mạch để thấm nhuần và nuôi nấng cơ nhục. Con trai tám lần tám, con gái bảy lần bảy, cái số của Trời-​Đất đã đến cực độ, cho nên Thiên quý hết. Nhưng cái chất Huyết dẫn ở trong kinh mạch vẫn không hết. Cho nên người già cả ăn uống được, Tỳ-​Vị khỏe, thời gân xương vẫn còn mạnh”.
Lại án : về con gái, có người đã quá cái giới hạn “bảy-​bảy” mà kinh nguyệt vẫn lôi thôi không dứt, đó là do cái huyết ở trong kinh-​toại tràn vào Xung-​Nhâm mà tiết ra cho nên mặt vàng, mình gầy, xương đau, gân mõi.
Ta nên nhớ rằng : huyết của Kinh-​toại dẫn ở trong mạch, huyết của Xung-​Nhâm thấm ra ngoài mạch.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Hoàng Đế hỏi :
- Có người tuổi già mà còn sinh con, là cớ vì sao ?
Kỳ Bá thưa :
- Đó là bởi người ấy bẩm thụ cái khí của Tiên-​thiên được thịnh, cái khí-​mạch của Hậu-​thiên cũng được dồi dào lưu thông ; khiến cho Thận-​khí thừa thãi nên mới có con. Tuy nhiên, cứ cái giới hạn chính thời con trai chẳng qua tới tám lần tám, con gái chẳng qua tới bảy lần bảy thời tinh-​khí của Trời-​Đất đã hết rồi.
Hoàng Đế hỏi :
- Những người có đạo, tuổi tới linh trăm, còn sinh nữa không ?
Kỳ Bá thưa :
- Những người tu đạo có thể không già và giữ vẹn được thân hình, vậy tuổi dẫu nhiều vẫn có thể sinh con được
Hoàng Đế nói :
- Đời Thượng-​cổ có bậc Chân nhân (1) có thể xoay chuyển được Trái đất, điều hòa được Âm-​Dương, thở hút tinh khí, giữ vững hình thần, da thịt không lúc nào thay đổi…. Nên mới có thể sống cùng Trời-​Đất, tới mãi vô cùng tận. Đó là hạng người sống hợp với ĐẠO (2) .- Về đời Trung-​cổ có bậc Chí-​nhân, sửa Đức hợp Đạo, hòa với Âm-​Dương, thuận với 4 mùa, xa đời lánh tục, chứa tinh vẹn thần, rong chơi trong khoảng Trời đất, xa trông ngoài tám cỏi….. Đó là bởi biết giữ gìn tu luyện, nên mới được mạnh mẻ và sống lâu. Bậc nầy rồi cũng sẽ như Chân-​nhân.
CHÚ GIẢI :________________________________________________________________________________

(1)_ Bắt đầu sinh ra hợp ngay với ĐẠO, giữ vẹn được THIÊN-​CHÂN, nên gọi là Chân-​nhân.
(2)_ Từ đoạn này trở xuống là Hoàng-​Đế thuật lại những chuyện nghe được từ đời trước, để giải thêm về lẽ sống của con người.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Về bậc thứ, có hạng gọi là Thánh nhân. ở trong vòng Trời đất, thuận theo lẽ tám phương, tuy cũng có thị dục như người thế tục ; nhưng không còn lòng hờn giận ; cũng áo mũ, cũng miếu đường, bên ngoài không để nhọc hình vì việc, bên trong không để nhọc về lo, lấy vui vẻ làm hay, lấy tự đăc làm thích …. Do đó hình thể không mõi mệt, tinh thần không lìa tan … Nên cũng có thể sống được linh trăm tuổi (1) .
Lại bậc thứ nữa, có hạng người gọi là Hiền-​nhân, bắt chước sự vận hành của Trời đất và mặt trăng mặt trời, thuận theo lẽ nghịch thuận của hai khí Âm-​dương với sự thay đổi của 4 mùa. Cố tu luyện theo đời người Thượng cổ cho hợp với Đạo. Như thế cũng có thể sống lâu mãi mãi. (2)
CHÚ GIẢI :________________________________________________________________________________

(1)_ Hai bậc Chân-​nhân và Chí-​nhân xa đời lánh tục, tu đạo để giữ vẹn lấy Thiên-​chân, không có tình hệ luyến của vợ con ; không có thói thèm muốn của thế tục, đó là bậc đi ngoài cõi tục. khác hẳn với người đời. Đến như bậc Thánh-​nhân thời vẫn ở trong vòng Trời đất, vẫn có luân lý cương thường, nhưng chỉ dùng các phương pháp “vô vi” để xử trị tự thân và thiên hạ, nên không phải nhọc đến thân thể và tinh thần …. Do đó cũng có thể sống tới linh trăm tuổi – Bậc này như 5 đời ĐẾ, 3 đời HOÀNG, và Chu-​Công, Khổng-​Tử, v.v…
(2)_ Bậc Hiền-​nhân : tuy ở trong trần tục, nhưng không bị vật dục nó che lấp. Dù có đôi khi cũng bị mờ ám đi đôi chút, nhưng lại sửa sang được ngay ; cũng sáng sủa như Nhật, Nguyệt, tinh, thần, và có thứ tự như 4 mùa và sự điều tiết của Âm-​dương…. Như thế thì tuy cái địa vị là Hiền nhân, mà cũng có thể đạt tới bậc Thánh nhân, hoặc Chân nhân, cũng chưa biết chừng … Đó là cái ý khuyến miễn của Hoàng-​Đế.
- o0o -
TIỂU DẪN ________________________________________________________________________
CHƯƠNG 2
TỨ KHÍ ĐIỀU THẦN LUẬN (1)
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Ba tháng mùa Xuân gọi là PHÁT TRẦN (2) . Khí của Trời đất mới phát sinh, muôn vật đều nảy nở tươi tốt. Đêm nằm, dậy sớm, đi dong dẽo ngoài sân. Buông sõa tóc , nới rộng áo, để cho “chí” (3) sinh ra. Chỉ sinh mà không sát ; chỉ cho mà không đoạt (cướp lấy) ; chỉ thưởng mà không phạt (4) . Làm như vậy cho hợp với cái khí của mùa Xuân, tức là cái đạo DƯỠNG-​SINH vậy. Nếu trái lại sẽ thương đến CAN, không đủ khí giúp sự phát triển của TÂM, tới mùa Hạ biến ra bịnh HÀN ……(5) .
CHÚ GIẢI :________________________________________________________________________________
(1)_ Thần chứa ở 5 Tạng, nên phải điều hòa TỨ KHÍ để giữ Thần.
(2)_ Nảy nở cái mới để thay đổi cái cũ. Xuân khí bốc lên, sinh muôn vật, thay cũ đổi mới nên gọi là Phát trần.
(3)_ Cái khí PHONG MỘC của phương Đông (tức là CAN khí) dẫn thẳng lên đầu óc, nên phải sõa tóc cho nó được sơ tán điều đạt. “CHÍ” tức là cái cơ phát sinh của 5 Tạng. CHÍ với Ý dùng để giá ngự tinh thần, thu liễm hồn phách, thông đạt ấm lạnh … Vì vậy nên suốt cả 4 mùa, lúc nào cũng làm cho thuận “CHÍ” .
(4)_ Đều là để cho hợp cái lẽ DƯỠNG SINH.
(5)_ Can thuộc MỘC vượng về mùa Xuân. Giờ làm trái ngược cái khí Xuân sinh thời sẽ thương Can. Can bị thương thời đến mùa Hạ sẽ biến ra bịnh Hàn ; Vì mùa Hạ thuộc Tâm HỎA … Can MỘC đã bị thương thời không thể sinh được Tâm-​Hỏa … đến mùa Hạ sẽ biến thành bịnh Hàn … sở dĩ như vậy là vì Tâm hỏa không được cái “sinh” (của Can Mộc), tự nhiên “Thủy” nó sẽ đến khắc “Hỏa” nên mới phát ra bịnh Hàn.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Ba tháng mùa Hạ gọi là PHỒN TÚ (1) . Khí của Trời đất gi­ao nhau (2) . Muôn vật nở hoa kết quả. Đêm nằm sớm dậy, chớ ngại ngày dài (3) . Đừng để trong “chí” có sự giận dữ cho thần khí được thư thái. Để cho khí bên trong được tuyên tiết ra bên ngoài, không bị vít lấp (4) . Làm như vậy cho hợp với cái khí của mùa Hạ, tức là cái đạo Dưỡng sinh vậy. Nếu trái lại thế, sẽ thương đến TÂM, tới mùa Thu biến ra bịnh NGƯỢC (sốt rét, úi … ) . Tâm-​khí ít không đủ giúp sự thâu liễm của PHẾ, mùa Đông tất lại mắc thêm bịnh (5) .
CHÚ GIẢI :________________________________________________________________________________
(1)_ Tươi tốt, rậm rạp vì muôn vật được hấp thụ khí Dương.
(2)_ Mùa Hạ âm-​khí đã hơi bốc lên, Dương-​khí đã hơi giáng xuống, cho nên gọi là “GI­AO NHAU”.
(3)_ Không nên ngại ngày dài, phải thường vận động.
(4)_ Về tháng Trưởng-​Hạ (tháng 6) thuộc về thời kỳ phát triển của 2 hành HỎA và THỔ (tức TÂM và TỲ). Nếu giận dữ thời Can-​khí phát động sẽ làm thương đến Tỳ THỔ. Hạ khí bồng nổi ra bên ngoài, nên phải để cho tuyên tiết, không bị vít lấp, thời Can sẽ được thư sướng, không sinh bịnh hoạn.
(5)_ Tâm thuộc HỎA vượng về mùa Hạ. Nếu làm trái với cái khí của mùa Hạ thời Tâm sẽ bị thương. Tâm bị thương đến Thu sẽ làm bịnh NGƯỢC. Đó là vì cái khí của mùa Hạ phù việt ra bên ngoài, đến mùa Thu thu liễm vào bên trong. Giờ không thu liễm được khiến cho 2 khí Âm Dương cùng chọi nhau nên mới thành bịnh Ngược. – Lại như : Dương khí vốn phát sanh từ Âm, tàng tại HẠ-​TIÊU. Mùa Xuân dẫn lên bộ phận trên, mùa Hạ dẫn ra bộ phận ngoài, mùa Thu liễm vào bộ phận trong, mùa Đông ẩn ở bộ phận dưới. Giờ mùa Hạ đã bị thương ở trên rồi, đến mùa Thu không còn gì để thu liễm. Sự thu liễm đã kém sút, đến mùa Đông không còn gì để bế tàng. Dương khí không trú về nơi căn bản; đến mùa Đông là thời kỳ phát triển Hàn-​thủy, không có khí Dương ấm áp để làm cho nó được quân bình điều hòa, nên mới lại mắc bịnh và nguy hiểm.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Ba tháng mùa THU gọi là DUNG BÌNH (1) . Khí trời hanh ráo, khí Đất trong sáng (2) . Nằm sớm dậy sớm theo tiếng gà gáy (3) . Để cho “chí” được an ninh, làm dịu bớt sự túc sái của mùa Thu, thâu liễm thần khí, cho Phế khí được trong sạch (4) . Làm như vậy cho hợp với cái khí của mùa Thu, tức là phương pháp giúp cho sự thâu liễm vậy. Nếu trái lại sẽ thương đến PHẾ, không đủ khí giúp cho sự thu tàng, mùa Đông sinh ra bịnh SÔN TIẾT (thổ tả) (5) .
CHÚ GIẢI :________________________________________________________________________________
(1)_ Muôn vật mùa THU đều đã đầy đủ, bình tỉnh, nên gọi như vậy. tức là hình dung từ.
(2)_ Về mùa Thu khí lạnh bốc lên, khí Trời hanh ráo, Dương khí giáng xuống nên mặt đất trong sáng.
(3)_ Về mùa Thu, gà gáy sớm, nhưng xuống chuồng muộn. Người cũng nên thức từ lúc gà gáy, nhưng tới khi gà xuống chuồng sẽ dậy. So với Xuân, Hạ dậy hơi muộn hơn. Đó là thuận theo sự thâu liễm của mùa Thu.
(4)_ PHẾ thuộc hành KIM, chủ về mùa Thu. Người đến mùa Thu cũng phải thâu liễm thần khí, khiến cho Phế khí cũng được ấm áp trong sạch.
(5)_ Mùa Thu chủ về hành KIM, Phế cũng thuộc hành Kim. Làm trái Thu-​khí thời thương đến Phế-​kim. Phế-​kim do đó không sinh được Thận-​Thủy là một tạng thuận về mùa Đông nên mới sinh ra bịnh Sôn-​tiết. Sở dĩ sinh ra bịnh đó là vì : Phế thuộc về “TÁO KIM” của Dương-​Minh kinh ; Tỳ Thổ ghét thấp (ẩm) ưa táo(ráo), giờ Phế-​kim đã suy, không thể sinh Thủy. Thận khí lại suy, không giữ gìn được Thủy. Tỳ Thổ lại không chế được Thủy nên mới bị “thấp” nó xâm lấn. Tỳ bị thấp xâm lấn, thời tránh sao khỏi sinh chứng SÔN-​TIẾT (vì ăn uống không tiêu hóa được, hoặc thổ hoặc tả ra, có khi còn nguyên cả thức ăn).
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Ba tháng mùa Đông gọi là BẾ TÀNG (1) . Nước thành băng, đất nức nẻ, không nên làm phiền nhiễu Dương khí (2) . Nằm sớm dậy muộn, nên đợi lúc mặt trời mọc khiến cho “chí” như ẩn nấp, như dấu diếm để cho khí của Tâm với Thận gi­ao nhau. Lánh nơi rét tới nơi ấm, đừng để bì phu bị lõa lồ tuyên tiết, làm động tới Can khí ở bên trong (3) . Làm như vậy cho hợp với cái khí của mùa Đông ; tức là cái đạo giúp cho sự thâu tàng vậy. Nếu trái lại sẽ thương đến THẬN, không đủ khí giúp cho sự sinh trưởng của CAN, tới mùa Xuân, tất sinh ra bịnh NUY-​QUYẾT (4) .
CHÚ GIẢI :________________________________________________________________________________
(1)_ Che đậy, cất kín. Tới mùa Đông, khí trời hình như đã thâu liễm, không phát dương, muôn vật cũng phải theo đó mà giữ gìn thân thể.
(2)_ Về mùa Đông, bên ngoài khí trời rét, nên Dương khí của con người cũng thâu tàng vào cả bên trong. Nên giữ gìn, không làm việc gì quá sức, khiến phiền nhiễu đến Dương-​khí, phải tuyên tiết ra bên ngoài.
(3)_ Lánh rét tới ấm là cốt để nuôi cái bộ phận “Tiêu-​Dương”. Ngoài bì phu thuộc về nơi sở chủ của Dương khí. Nhưng Dương-​khí gốc ở Âm (từ bộ phận Chí-​âm) rồi mới phát ra ngoài bì phu. Nếu bên ngoài không giữ gìn ấm kín, thời khí Dương ở bên trong tất phải phát ra để tiếp viện, đó tức là làm lay động đến căn-​khí, rất có hại.
(4)_ THẬN thuộc THỦY, vượng về mùa Đông. Nếu mùa Đông trái mất sự bế tàng, thời sẽ thương đến Thận. thận đã bị thương, không còn đủ sức để sinh ra CAN-​MỘC ; nên sang mùa Xuân Can-​Mộc cũng bị suy yếu. Can chủ CÂN, Can suy yếu thời cân mắc bịnh nên thành chứng NUY – tức là gân dãn ra, không cử động được, hoặc cái sinh khí của Can quay nghịch xuống bộ phận dưới thời thành chứng QUYẾT – tay chân giá lạnh.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Thiên khí vốn trong sạch, sáng sủa (1) . “Tàng đức” vận động không ngừng, nên không cần phải giáng xuống mà cũng như giáng xuống (2) . Nếu thiên-​khí không “tàng” mà lại sáng tỏ, thời Nhật Nguyệt sẽ không còn sáng, mà hư tà sẽ làm hại KHÔNG KHIẾU (3) . Nếu Dương khí bị vít lấp, thời Địa-​khí sẽ tràn ngập lên (4) khiến cho mây mù đông đặc, bạch lộ không thể xuống được (5) , các loài cỏ cây cũng bị khô héo úa vàng (6) . Do đó Tặc phong bạo vũ dồn dập tới luôn, cái khí hậu 4 mùa cũng thành ra trái ngược lẫn lộn. Con người sinh sống trong khoảng đó, nếu không biết giữ gìn mình cho đúng phương pháp, thời tránh sao khỏi nguy đến tính mệnh.
Chỉ có bậc Thánh nhân là hay thuận theo thời khí để giữ mình cho nên không mắc phải những tật bịnh lạ lùng, mà sinh khí cũng còn được lâu bền mãi mãi (7) .
CHÚ GIẢI :________________________________________________________________________________
(1)_ Mấy đoạn trên, bàn về nên thuận theo cái khí của 4 mùa để điều dưỡng tinh thần của mình. Nhưng muốn được 4 mùa thuận tự, không trái ngược, trước phải nhờ Thiên khí êm hòa. Nếu thiên khí không êm hòa, thời 4 mùa cũng không thể thuận tự. Nên từ đây trở xuống, lại bàn về cái khí của Trời đất.
(2)_ Khí Trời cần phải vận động không ngừng. Đã không ngừng nên không cần phải giáng xuống mà cũng như giáng xuống.
(3)_ Thiên khí vốn sáng sủa, nhưng cốt ở sự “ẩn tàng” nên mới cần đến sự sáng sủa của Nhật-​Nguyệt. Nếu giờ lại không ẩn tàng, thời tức làm lấn át mất cả sự sáng sủa của nhật-​nguyệt, không còn giữ được cái địa vị của sự thanh tỉnh cao minh nữa. Tỷ như khí Dương (ấm) của con người không gìn giữ che chở ở các bộ phận trên và ngoài, thời hư tà (khí độc) sẽ lọt vào các khiếu (lỗ hổng như tai, mũi …) mà làm hại.
(4)_ Nếu Thiên-​khí đã bị vít lấp, thời Địa-​khí sẽ tràn ngập lên, tức là chỉ có lên mà không có xuống. Khí của trời đất còn êm hòa sao được.
(5)_ Địa khí bốc lên thành ra mây mù, Thiên khí giáng xuống thành ra mưa móc, giờ chỉ có thăng mà không giáng, nên không có BẠCH LỘ (giọt móc trong trắng).
(6)_ Khí của trời đất đã không hòa, hoặc sinh ra mưa dầm thối đất, gió nóng héo cây, không những cây cỏ chết mà con người cũng không sao khỏi sinh bịnh tật …
(7)_ Xét qua muôn vật, giống nào cũng được có một thứ sinh khí tự nhiên, dù nó có gặp sự bất hòa của Âm Dương, mà nó cũng không đến nổi tuyệt duyệt. Duy có giống người là đã bị tấm lòng thị-​dục nó làm trác táng mất Nguyên-​khí rồi, nếu lại gặp sự bất hòa của thời tiết, thời không sao khỏi chết. Đến bậc Thánh nhân thời đã biết thuận theo sự bất hòa của thời tiết để thi hành mọi phương pháp tu dưỡng đề phòng nên sinh khí lúc nào cũng dồi dào, không khi nào hết đi được.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Làm trái khí mùa Xuân, thời Thiếu-​Dương không thi triển được cái công năng SINH-​PHÁT, Can-​khí sẽ mất mà biến bịnh.
Làm trái khí mùa Hạ, thời Thái-​Dương không thi triển được cái công năng TRƯỞNG DƯỠNG (nuôi lớn) ; Tâm-​khí sẽ bị rỗng không, mà sinh bịnh.
Làm trái khí mùa Thu, thời Thái-​Âm không thi triển được cái công năng THÂU-​LIỄM ;Phế-​khí sẽ bị đầy trướng mà sinh bịnh.
Làm trái khí mùa Đông, thời Thiếu-​Âm không thi triển được cái công năng THÂU-​TÀNG ;Thận-​khí bị chìm lấp mà sinh bịnh (1) .
Nghĩ như, khí Âm Dương của 4 mùa thực là gốc rễ của muôn vật. Vì vậy, bậc Thánh nhân về 2 mùa Xuân Hạ thời nuôi khí Dương ; về 2 mùa Thu Đông thời nuôi khí Âm ; tức là bồi dưỡng từ nơi gốc rễ (2) . Cho nên mới có thể cùng với muôn vật cùng chìm nổi trong vòng Sinh-​trưởng (3) . Nếu làm trái mất ngay từ nơi gốc rễ thời không sao toàn được (4) . Cho nên nói rằng : “ 2 khí Âm Dương ở trong 4 mùa nó là trước sau của muôn vật, là gốc của sự sống chết. Trái nó thời tai hại sẽ sinh ra, thuận nó thời tật bịnh không mắc phải. Chỉ có bậc Thánh nhân là hay thuận theo được lẽ đó, còn kẻ ngu thì rất dễ sao lãng.
Thuận theo lẽ Âm Dương thời sống, trái thời chết ; theo thời trị, trái thời loạn (5) .
Vì thế cho nên Thánh nhân không trị khi đã mắc bịnh, mà trị từ lúc chưa mắc bịnh ; không trị khi đã loạn mà trị từ lúc chưa loạn. Nếu bịnh đã mắc mới uống thuốc, loạn đã thành mới sửa trị, khác chi lúc khát nước mới đào giếng, sắp đánh nhau mới đúc đồ binh khí, chẳng muộn lắm ru? (6) ….
_____________________________________________________________________________________________-
(1)_ Đoạn này nói 2 khí Âm Dương tùy thời thay đổi ; nếu làm ngược nó, thời Tạng-​Phủ sở chủ về từng mùa tự nó cũng bị bịnh, chứ không đợi thiếu sự giúp ích của Tạng nọ khiến Tạng kia cũng bị bịnh nữa. Thiếu Dương (ĐỞM) chủ về cái khí sinh tươi của mùa Xuân ; nếu làm trái khí mùa Xuân, thời khí của Thiếu Dương không bốc lên sẽ khiến Can bị uất mà sinh bịnh. _ Thái Dương (TIỂU TRƯỜNG) chủ về cái khí Trưởng-​dưỡng của mùa Hạ. Nếu Thái Dương không trưởng dưỡng, thời Tâm-​khí sẽ bị thiếu sút mà sinh bịnh. _ Thái-​Âm chủ về cái khí THÂU-​LIỄM của mùa Thu. Nếu Thái âm không thâu liễm, thời Phế diệp (lá phổi) sẽ sưng lên mà sinh bịnh. _ Thiếu-​Âm chủ về cái khí bế tàng của mùa Đông. Nếu Thiếu-​Âm không bế tàng thời Thận-​khí sẽ hư mà sinh bịnh.
Án : Thiếu-​Dương ĐỞM kinh : Đởm là Giáp-​Mộc, CAN là Ất-​Mộc ; nên Can với Đởm cùng làm biểu lý. – Thủ Thái-​Dương TIỂU TRƯỜNG kinh : Tiểu-​Trường là Bính-​Hỏa, Tâm là Đinh-​Hỏa, nên Tâm với Tiểu-​Trường là biểu lý. – Trên đây nói Đởm không sinh phát mà Can mắc bịnh .v.v…. là do chỗ cùng làm biểu lý đó.
(2)_ Cái khí Âm Dương ở 4 mùa “SINH-​TRƯỞNG-​THÂU-​TÀNG” hóa nuôi muôn vật ; cho nên làm gốc rễ cho muôn vật. Về 2 mùa Xuân-​Hạ : Dương thịnh ở bên ngoài mà hư ở bên trong ; về 2 mùa Thu-​Đông : Âm thịnh ở bên ngoài mà hư ở bên trong. Cho nên Thánh-​nhân nuôi khí Dương về 2 mùa Xuân-​Hạ, mà nuôi khí Âm về Thu-​Đông. Tức là bồi dưỡng từ nơi gốc rễ vậy. _ Hoặc có người hỏi : tiết trên nói : “2 mùa Thu-​Đông, khí Âm chủ về việc Thâu –tàng” đây lại nói “ khí Âm thịnh ở bên ngoài…” vậy Âm Dương lại có 2 “lẽ” chăng ?. _ Xin đáp : “ Trời thuộc Dương, Đất thuộc Âm, trời bọc ngoài đất, đất lọt trong trời. Hai khí Âm Dương đều tự đất phát ra, rồi lại thâu tàng vào trong đất ; thời gọi là “ Âm ở trong Âm”, khi thoát ra khỏi mặt đất thời gọi là “Dương ở trong Âm”. Vậy trên kia nói : “Âm chủ về thâu tàng” tức là thâu tàng cái Dương đã thoát ra vậy.
(3)_ Muôn vật có cái gốc ấy mới có thể sinh trưởng. thánh nhân biết bồi dưỡng cái gốc ấy, nên mới có thể cùng muôn vật chìm nổi trong vòng sinh trưởng.
Lại án : tiết trên nói : “Thiếu-​Dương, Thái-​Dương……” thời đủ biết Dương khí ở trong con người cùng hòa hợp với Dương khí của trời đất ; nên chi Thánh nhân ở hai mùa ấy mới bồi dưỡng Dương khí. Tiết trên nói : “ Thiếu-​Âm, Thái-​Âm……” thời đủ biết Âm-​khí ở trong con người cùng hòa hợp với Âm-​khí của Trời đất, nên chi Thánh nhân ở 2 mùa ấy mới thâu tàng Âm-​khí ; chính là điều dưỡng ngay từ nơi gốc rễ.
(4)_ Tỷ như “ trái với khí mùa Xuân….. trái với khí mùa Hạ….”
(5)_ “THUẬN” là nói về lẽ Âm dương cùng hợp. Ngũ hành cùng sinh như Đông phương Can-​Mộc sinh Nam-​phương Tâm-​Hỏa, rồi Hỏa sinh TỲ-​Thổ, Thổ sinh Phế-​kim, Kim sinh Thận-​thủy, Thủy sinh Can-​Mộc …..
(6)_ KIM-​QUỸ-​NGỌC-​HÀM nói : “ bậc Thượng-​công (thầy thuốc giỏi) chữa bịnh từ lúc chưa mắc bịnh là thế nào ?
Thầy (TRỌNG CẢNH tự xưng) đáp : - tỉ như thấy CAN mắc bịnh, biết là Can sẽ phạm đến TỲ (Can Mộc khắc Tỳ Thổ) nên bổ ngay Tỳ khiến cho Tỳ đủ năng lực kháng cự lại sự khắc của CAN, do đó Can-​khí bắt buộc phải theo lẽ chính mà truyền sang TÂM (Can-​mộc sinh Tâm-​hỏa). Đó là xoay nghịch làm cho thuận, đổi loạn làm cho trị vậy.
Nếu đợi đến lúc khí của 5 Tạng đã loạn, bịnh của 5 Tạng đã thành, bấy giờ mới theo để điều trị, thời kịp sao được nữa ?....
ÁN : Thiên này nói về lấy cái khí Âm dương trong 4 mùa của Trời đất để nuôi cái khí Âm dương ở trong 5 Tạng của con người, lại đem 5 Tạng lại ứng với 5 Hành. Nghị luận rất thấu triệt.
-- o0o --
TIỂU DẪN ________________________________________________________________________
CHƯƠNG 3
SINH KHÍ THÔNG THIÊN LUẬN (1)
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Hoàng Đế nói :
- Các bậc Thánh triết đời xưa, hiểu suốt (thông) lẽ trời đất rằng “ khí Trời là cái gốc của tính mệnh con người. Trời lấy 2 khí Âm dương để sinh ra muôn vật, mà tính mệnh con người ở gốc Âm-​dương ; cho nên ở trong khoảng 6 cỏi (2), khí đó phân tán ra ở trên mặt đất, chia làm 9 Châu (3), khí đó phân tán ở con người thành ra 9 KHIẾU (4) , 5 Tạng (5) và 12 khớp xương (6) đều cùng thông với Thiên-​khí. Những phần tử để sinh ra con người nhờ ở 5 HÀNH và 3 KHÍ (7) . Nếu không cẩn thận, hằng phạm phải những khí đó sẽ sinh tật bịnh. Trái lại nếu biết cẩn thận sẽ được sống lâu. Thiên khí là một thứ rất trong sạch, ta hay thể theo cái trong sạch ấy mà giữ mình, thời “ CHÍ-​Ý” tự an tỉnh, mà cái Dương khí bao bọc quanh mình là cũng kín đáo, dù có “tặc tà” cũng không làm gì được. Chỉ có bậc Thánh nhân là hay đề phòng như vậy. Còn ngườ thường thời trái với lẽ đó, nên trong thời 9 khiếu bế nghẽn, ngoài thì cơ phu bị vít, cái Dương khí bao bọc bên ngoài tan rã ; đó là tự mình gây nên bịnh.
CHÚ GIẢI :________________________________________________________________________________
(1)_ Thiên này nói về khí Trời gi­ao thông với khí ở trog thân thể con người. Đầu thiên có 2 chữ “THÔNG THIÊN” nên đặt làm tên bài.
(2)_ Trên dưới và 4 phương là 6 CÕI.
(3)_ Ký, Duyệt, Thanh, Từ, Kinh, Dương, Dự, Đương, Ung, là 9 CHÂU.
(4)_ Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận, là 5 TẠNG.
(5)_ Hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi, miệng, và tiền hậu âm là 9 KHIẾU.
(6)_ Hai cánh tay, hai cẳng chân đều có 3 khớp lớn, cộng thành 12 khớp. _ LINH KHU nói : “ đất có 9 Châu, người có 9 Khiếu, trời có 5 Âm, người có 5 Tạng ; NĂM có 12 tháng, người có 12 khớp xương ; Năm có 365 ngày, người có 365 đốt xương nhỏ ; đất có 12 nguồn nước, người có 12 đường mạch.”
Khớp xương là một nơi chứa Thần-​khí qua lại cho nên hợp với tháng năm của Trời. Mạch là một nơi lưu thông của huyết-​dịch, cho nên hợp với nguồn nước chảy của đất ; 9 Khiếu là một nơi ra vào của Tạng khí. 5 Tạng là nơi tụ họp và biến hóa của khí Âm-​Dương, cho nên đều phối hợp của Thiên-​khí.
(7)_ Ba khí là 3 khí thuộc Âm và 3 khí thuộc Dương:
.- 3 khí thuộc Âm : HÀN_TÁO_THẤP
.- 3 khí thuộc Dương : PHONG_HỎA_THỬ (khí nắng).
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Dương khí ở trong con người như “Thiên” với “Nhật” . Nếu làm sai lạc, mất địa vị của nó, sẽ không thể sống được. Thiên-​đức lúc nào cũng kiện vận không ngừng nên mặt trời sáng tỏ, Dương khí ở con người cũng do đó mà bao bọc ở bên ngoài _ Dương khí vốn gốc ở Chí-​âm, bên ngoài gặp phải khí Hàn, tức thời Dương-​khí từ bên trong ứng ra để cản lại _ Sự ứng ra nhanh chóng như xoay cối cửa (nên gọi là VẬN-​KHU) (1) .
CHÚ GIẢI :________________________________________________________________________________
(1)_ Phàm cái độc của khí “Phong, hàn” đều bắt đầu phạm vào khí phận ở bì mao, vì thế Dương khí ở bên trong mới ứng ra để cản lại, do đó, gây nên sốt nóng _ MẠC-​TRỌNG-​SIÊU nói :” án: bịnh Thương-​hàn bắt đầu phạm vào khí phận ở bì mao, gặp Dương khí ở bên trong ứng ra nên hóa nhiệt, nhiệt dù nhiều cũng không chết” _Tỷ như bịnh ở kinh Thái-​Dương, phát nhiệt, nhức đầu, mạch lại “TRẦM” (bịnh ở Thái-​dương đáng lẽ mạch PHÙ, nên đây dùng chữ “lại”) : nên kịp cứu Dương-​khí ở “LÝ” cho nó ra ngoài.” Nguyên Hán-​văn đoạn này chỉ có 1 câu: “ Nhân ư hàn dục như vận khu” _ theo nghĩa đen thời là : “ Nhân ở khí hàn muốn như xoay cối cửa” vì dịch như thế thời khó hiểu nên phải giải dài như trên.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Gặp phải “THỬ” và “HÃN” sẽ thành ra phiền và thở gấp. Nếu không phiền, sẽ nói nhiều ; mình nóng như than, hãn ra thời khỏi (1) .
(1)_ Dương tà của Trời (tức hơi nắng) phạm vào Dương-​khí của người, khí bị thương không vệ ngoại (giữ bên ngoài) được, nên mồ hôi (hãn) mới thoát ra. Cái tà ở khí-​phận nhiệt quá bách vào Tâm, nên Tâm phiền. Bộ vị của Tâm ở trong Phế,Tâm mắc bịnh Phế cũng bị lây. Hỏa khắc Kim, nên mới thành thở gấp.
Nếu không phiền, thời tà khí còn ở khí phận ; khí phận bị thương nên khí hư, khí hư nên nói nhiều. Dương tà của Trời phạm vào Dương khí của ngươi , hai khí đó cùng chọi nhau, nên mình mới nóng như than. Tà nhiệt đó gặp được chất âm-​dịch thời giải, nên mồ hôi ra mới khỏi.
- Án: THƯƠNG-​HÀN-​LUẬN nói rằng: phàm bịnh thường tự hãn là do khí không hòa, lại dùng thuốc cho “phát hãn” thêm, khiến cho VINH, VỆ điều hòa sẽ khỏi. Xem vậy thời biết : vì gặp khí thử mà hãn ra là vì “thử” làm thương đến khí Dương, khiến cho vệ-​khí (dương) không hòa. Đến khi hãn ra mà khỏi, tức là do Vinh-​Vệ hòa vậy” .
- TRƯƠNG-​KHIẾT-​CỔ nói: “do sự hành động mà mắc phải gọi là trúng nhiệt ; do sự yên lặng mà mắc phải gọi là trúng THỬ _ Trúng nhiệt thuộc DƯƠNG CHỨNG, trúng thử thuộc ÂM CHỨNG.”
- LÝ-​ĐÔNG-​VIÊN nói : “về những tháng Thử-​nhiệt, những người nhàn hạ, lánh lắng ở những nơi buồng sâu nhà rộng….. trong thời kỳ đó, mà mắc bịnh gọi là trúng THỬ. Chứng trạng tất nhức đầu, ố hàn, thân hình co rút, các khớp xương đau nhức, trong lòng buồn bực, da thịt rất nóng và không có hãn. Đó là bởi cái khí Âm-​hàn ở nơi buồng sâu nó cản át lại mà sinh bịnh. _ Nếu do người lao động mắc phải ở ngoài trời nắng, thời gọi là trúng NHIỆT. Chứng trạng tất nhức đầu, buồn bực, ố nhiệt, da thịt nóng như đốt, khát nhiều uống lắm, hãn ra như tắm…. Đó là bởi nhiệt độc phạm tời PHẾ-​KHÍ mà sinh bịnh.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Gặp phải THẤP (khí ẩm). đầu nặng như đội ; thấp phạm vào Dương-​khí, nhân đó hóa nhiệt _ Dương khí vốn là một vật nhuần nuôi các đường gân, giờ Dương khí bị thương, gân sẽ mắc bịnh. Các gân nhỏ co rút lại, các gân lớn buông chùng ra, thành ra bịnh CÂU-​LOAN và TÚNG-​THỈ (co quắp, rã rời không cử động được). Có khi lại sưng thũng cả tứ chi (bởi Dương khí không vận hành ra tứ chi nên sưng thũng).
Nếu lại quá phiền-​lao, thời Dương khí bị phân tán ra bên ngoài ; không có đủ năng lực để bảo vệ Âm-​khí ở bên trong, tinh sẽ tự tiết ra mà hao kiệt. Nếu ở mùa Hạ thời thành chứng TIÊN-​QUYẾT (chân tay giá lạnh) ; tinh khí hư nên mắt mờ, không trông rõ, tai ù không nghe rõ.
Dương khí thông ra bì phu tấu lý (thớ thịt, bắp thịt) nếu tức giận quá độ, thời khí nghịch lên, huyết cũng theo mà uất lên bộ phận trên, gây nên chứng BẠC-​HUYẾT (toàn thân giá lạnh). Gân nhờ có huyết mới thấm nhuần mềm mại; giờ huyết bị uất, gân không được thấm nhuần nên mới thành ra rã rời không thể cử động.
Nếu hãn ra chỉ có nữa mình (1) sẽ sinh chứng THIÊN-​KHÔ (2) ; nếu hãn ra mà gặp Thấp, sẽ thành chứng mọc các mụt nhỏ lấm tấm (3) . Những người mà ăn nhiều thuốc cao lương, phần nhiều mọc đinh (4) . Hãn ra gặp gió, khí lạnh át lại, sẽ uất thành các mụt nhỏ như nốt sởi (5) .
CHÚ GIẢI :________________________________________________________________________________
(1)_ vì Dương-​khí không bao bọc được khắp mình.
(2)_ khô đét một nửa mình.
(3)_ các nốt nhỏ, bên trong có mủ, tên chữ Hán gọi là “TỎA-​KHÍ”.
(4)_ vì cái nhiệt độc của thức ăn nhiều chất mở “béo ngậy” hay mọc đinh, mụn, hoặc kiết lỵ .v.v…
(5)_ vì Dương-​khí bị át lại, không tiết ra được, nên mới mọc những nốt như vậy.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Dương khí : cái chất “Tinh” của nó thì nuôi THẦN ; cái tính “Nhu” của nó thời nuôi GÂN (1) .
Nếu sự “KHAI-​HẠP” (2) của nó bị vướng mắc, sẽ bị hàn tà phạm vào. Phạm vào đường xương sống thời thành bịnh “GÙ” ; nó lưu luyến ở trong mạch máu, trong thớ thịt thời thành chứng “TÊ” ; hoặc phạm vào Tâm tạng thời thành chứng hay sợ, hay hãi, hoặc phạm vào khí phận ở trong các thớ thịt thời thành chứng mụn sưng (3) .
Nếu hãn chưa ra hết, nhiệt còn lưu luyến trong tấu lý, huyệt DU (4) bị vít, sinh chứng PHONG NGƯỢC (5) .
CHÚ GIẢI :________________________________________________________________________________
(1)_ Dương khí là cái chất TINH của thủy cốc cho nên trước nuôi “ THẦN kHÍ ” của 5 Tạng. Tính “NHU” là cái khí “sơ Dương” của Thiếu-​dương .
Án: - Đầu bài nói về THẦN KHÍ vốn gốc ở Tiên-​chân ; đây lại nói tới THẦN CHÍ do năm vị (5 mùi) sinh ra, đó là bởi TINH-​KHÍ-​THẦN đều có cả Tiên-​thiên và Hậu-​thiên. Cái thần-​khí của Tiên thiên lại phải nhờ cái khí “Thủy cốc” của Hậu- thiên để sinh dưỡng ; cho nên có câu rằng : “ Hai tinh cùng cọ sát nhau, gọi là “THẦN” . Hai tinh đó là tinh của Thiên-​ất và tinh của Thủy cốc vậy.
(2)_ KHAI-​HẠP là mở đóng, tức là nói khi ấy vận ra hoặc thu vào, tựa như cánh cửa mở và đóng.
(3)_ Đây nói sự bảo vệ của Dương-​khí không được bền chặt, khiến hàn tà phạm vào mà gây nên các chứng trạng ; ta cần phải bảo trọng khí đó.
- TẾ CÔNG nói : “ Bảo vệ bên ngoài không gì bằng bì mao (da lông) ; nếu bì mao không bền kín thời tà sẽ phạm ngay vào tấu lý (mạch lạc).
- MẠC-​TỬ-​TẤN nói : “Cái nhiệt độc của thức cao lương phạm vào nhục lý sẽ mọc đinh lớn. Cái tà khí bên ngoài phạm vào nhục lý sẽ mọc mụn sưng.” Xem đó thời biết bì mao nhục lý đều thuộc địa hạt cai quản của Dương khí. _ Vậy ta giữ gìn cho Dương khí đầy đủ, không bị hao hụt, tự nhiên các bịnh không phát sinh được.
(4)_ HUYỆT DU : là 1 huyệt của Phế-​bộ _ Tấu lý bị thưa rỗng, thởi biểu Dương với tà khí đều ẩn nấp ở đó. Hàn tà ở biểu thời theo Dương mà hóa nhiệt ; tà lọt vào tấu lý mà biểu-​khí (dương) không trở về được “KINH” là nơi cư trú của mình, vì thế nên huyệt DU mới bị vít.
(5)_ PHONG NGƯỢC : là một chứng sốt úi, chỉ nóng mà không rét.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Ta nên biết rằng”PHONG” đứng vào hàng đầu mối trăm bịnh. Nếu tấu lý bên vững kín đáo, thời dù có gió độc cũng không làm gì được(1) .
Bịnh tà nếu để lưu luyến lâu nó sẽ truyền hóa, trên dưới không thông. Lương công không để cho nó như vậy ; phải chính-​trị ngay từ trước (2) .
Dương khí ban ngày thời chủ về bên ngoài. Lúc mờ sáng khí ấy mới phát triển, đúng trưa thời toàn thịnh, quá chiều thời đã hư, KHÍ-​MÔN bắt đầu đóng (3) .
CHÚ GIẢI :________________________________________________________________________________
(1)_ Đoạn này nhắc lại : nên phải bảo trọng Dương-​khí, để cho tấu lý được bền kín. Đại phàm : hàn thử trước phạm vào bì mao, còn phong-​tà thời thấu thẳng vảo tấu lý._ Phong là một thứ đi nhanh và biến hóa luôn. Khi đã phạm tới cơ tấu, thời sẽ đi tới ngay kinh mạch. Khi đó hoặc thành chứng HÀN TRÚNG, hoặc thành chứng THỬ TRÚNG, NHIỆT TRÚNG hoặc thành chứng THIÊN KHÔ, hoặc thành chứng TÍCH TỤ …… Nên mới gọi là “ đầu trăm bịnh” ……
Tiết trên nói về “ hàn, thử, thấp” làm thương đến biểu Dương, nên cần phải giữ sức cho biểu dương khỏi suy yếu. Đoạn này nói : “Phong tà phạm vào thẳng tấu lý, nên cần phải bảo vệ Nguyên-​chân cho được bền kín”.
(2)_ Truyền hóa : như hoặc hóa làm hàn, hoặc hóa làm nhiệt, hoặc hóa làm táo kiết, hoặc hóa làm thấp tả…. Bởi ở Trời có cái tà khí lục dâm, mà trong thân con người cũng có 6 khí để hòa theo.
(3)_ Đóng tựa như đóng cửa. theo LINH KHU : mùa Xuân thời sinh, mùa Hạ thời trưởng, mùa Thu thời Thâu, mùa Đông thời Tàng ; đó là lẽ thường của Thiên khí. Trong thân con người cũng ứng theo như vậy. Lấy một ngày chia làm 4 mùa : sáng sớm là Xuân, về đêm là Đông. Sáng sớm Dương khí mới phát triển, cho nên người ta phần nhiều sáng sớm hay tỉnh táo, và lanh trí khôn ; đúng trưa thời khí trưởng, trưởng thời thắng được tà……..
KINH VĂN ________________________________________________________________________
……… Vậy nên về đêm nên giữ gìn, đừng quá dùng sức gân xương, đừng ra hứng sương móc. Nếu trái lẽ ấy sẽ không khỏi mắc bịnh (1) .
Kỳ Bá nói :
- Âm chủ về tàng tinh, mà thường bồng lên để ứng với bên ngoài ; Dương chủ về bảo vệ bên ngoài cho Âm được bền vững kín đáo (2) .
- Âm không thắng được Dương, thời luồng mạch chảy gấp, sẽ phát bịnh CUỒNG (3) .
- Dương không thắng được Âm, thời khí của 5 Tạng tranh dành nhau do đó 9 khiếu không thông (4) .
CHÚ GIẢI :________________________________________________________________________________
(1)_ Gần tối, nhân-​khí bắt đầu suy ; đến đêm, khí đó thu vào Tạng, nên phải giữ gìn, đừng quá nhọc mệt, không để lõa lồ, để phòng ngoại tà xâm phạm
(2)_ Sinh mệnh con người, gốc ở Âm-​Dương ; Dương lại sinh ra bởi Âm. Nên trên kia ĐẾ nói về Dương, ở đây Kỳ-​Bá lại nói về Âm.
(3)_ Khí thuộc Dương, huyết mạch thuộc Âm. Dương thịnh mà Âm không thắng được, nên mới phát bịnh CUỒNG.
(4)_ 5 Tạng thuộc Âm, 9 khiếu là nơi cửa ngõ của thủy-​khí. Nếu Âm thịnh mà Dương không thắng được, thời cái khí của 5 Tạng gi­ao tranh ở bên trong, 9 khiếu do đó mà không thông. Bởi cái khí của 5 Tạng ra ngoài thời là Dương, ở trong thời là Âm. Tạng thuộc Âm, tinh huyết thuộc Âm ; khí thuộc Dương, 9 khiếu thuộc Dương, ở trong là Âm, ra ngoài là Dương. Năm Tạng chủ về tàng tinh. Bàng Quang là một cơ quan chứa tinh dịch. Cái khí Biểu-​Dương do tinh-​thủy từ Bàng-​quang sinh ra. Cái khí ở cơ cấu lại do Nguyên-​chân ở 5 Tạng. Đó tức là Dương-​khí được sinh ra bởi Âm-​tinh. Nên mới nói rằng :
-“ cái gốc của sinh mệnh con người là ở Âm-​Dương…..”
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Chỉ bậc Thánh-​nhân biết điều tiết Âm-​Dương, khiến cho gân mạch điều hòa ; xương tủy bền chặt ; khí huyết đều thuận, nên trong ngoài hòa hợp, “TÀ” không thể làm hại, tai mắt tỏ sáng (1) .
Phong phạm vào khí, tinh sẽ mất ; nhân lại phạm vào cả CAN (2) . Nếu lại thêm sự ăn quá no, gân mạch tức thời sụt lỏng, Đại-​Trường nhiệt tích mà gây nên bịn­hTRĨ (3). Hoặc vì uống quá nhiều thời khí nghịch, nếu lại quá dùng sức, THẬN sẽ bị thương do đó thành chứng đau ở CAO CỐT (4) .
Tóm lại, cái cốt yếu của Âm-​Dương : “Dương có bền bĩ thời sinh mệnh mới vững vàng (5) .
CHÚ GIẢI :________________________________________________________________________________
(1)_ Âm Dương điều hòa, tà không phạm tới. Tinh khí thông lên tai, thần-​khí thông lên mắt, nên tai mắt tỏ sáng.
(2)_ PHONG là Dương tà, nếu phạm vào phu biểu, thời khí sẽ bị thương. Dương khí bị thương thời Âm-​tinh sẽ mất (hoặc như chứng TIẾT TINH) _ CAN thuộc Mộc, Phong với Mộc là đồng khí. Nếu Phong phạm vào tất phải động đến Can-​khí. Can-​khí bị phong tà phạm thời HUYẾT sẽ bị thương (vì Can tàng huyết). Câu này lại nêu rõ cái nghĩa : “Dương phải giữ bền cho Âm”.
(3)_ Can chủ Huyết và Cân. Thức ăn vào VỊ, tán bố cái tinh-​khí lên Can, rồi thấm nhuần vào gân. Giờ tà đã làm thương Can mà lại ăn quá no, không đủ sức để bố tán thực-​khí cho được thấm nhuần vào gân, nên gân bị sụt lỏng ; khiến thực khí đình trệ ở ĐẠI-​TRÀNG, hóa thành Thấp-​nhiệt, mà gây nên bịnh TRĨ _. Nước uống vào VỊ chuyển du lên PHẾ. Phế chủ về khí ở toàn thân. Giờ khí bị tà làm thương, mà lại uống nhiều, thủy-​tinh không thể tán bố, nên mới thành chứng khí nghịch _.
(4)- CAO CỐT tức chỗ xương ngang lưng.
(5)_. Mấy câu này tổng kết cái nghĩa ở mấy đoạn trên và lại nêu rõ (cần phải chú trọng về Dương-​khí).
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Hai khí ấy nếu không điều hòa, như có Xuân không Thu, có Đông không Hạ. nên làm cho nó điều hòa tức là phương pháp của bậc Thánh-​nhân.
Nếu Dương bị tà phạm, không thi hành được cái nhiệm vụ làm bền ở bên ngoài, Âm sẽ bị mất ở bên trong.
ÂM BÌNH, DƯƠNG BÍ, tinh thần sẽ trị ; Âm-​Dương ly biệt, tinh-​khí sẽ tuyệt (1) .
Gặp phải lộ (móc) và phong, sẽ sinh bịnh HÀN-​NHIỆT.
Mùa Xuân bị thương vì Phong tà, khí lưu liên sẽ thành chứng ĐÔNG-​TIẾT (tả) .
Hạ bị thương về Thử, tới mùa Thu sẽ sanh chứng NGƯỢC.
Thu bị thương về Thấp, ngược lên thành chứng HO, phát ra thành chứng NUY-​QUYẾT.
Đông bị thương về Hàn, sang Xuân sẽ thành ÔN BỊNH (2) .
CHÚ GIẢI :________________________________________________________________________________
(1)_. BÌNH là quân bình, BÍ là kín đáo, bền chặt. Tức là ý nói hòa hợp với nhau _. Riêng Dương vẫn phải giữ bền bên ngoài.
(2)_. LỘ thuộc Âm, PHONG thuộc Dương ; Hàn là Âm bịnh, Nhiệt là Dương bịnh _. Bị thương về phong, bộ phận trên bị trước ; bị thương về Thấp bộ phận dưới bị trước. dương bịnh ở trên đi hết rồi thời quay xuống dưới, vì thế nên Xuân bị thương về Phong, mà lại thành chứng ĐÔNG TIẾT. Âm bịnh ở dưới đi hết rồi thời quay trở lên, vì thế nên Thu bị thương về Thấp, mà lại thành chứng HO. Đó là cái lẽ Âm Dương cùng trao đổi vậy.
. Hạ bị thương về Thử, “thử hãn” không tiết ra được, khí nóng ẩn nấp ở bên trong, tới mùa Thu âm khí phát ra gặp phải khí nhiệt, nên thành chứng NGƯỢC.
. Đông bị thương về Hàn, tà không phát ngay, hàn khí ẩn nấp ở bên trong, tới mùa Xuân dương khí phát ra, tà sẽ theo Dương khí mà phát nhiệt, hóa ra ÔN BỊNH (ÔN : từ gọi chứng sốt nóng vào mùa Xuân).
. Đó là đường lối ra vào và sự biến hóa của Âm Dương.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Tà khí của 4 mùa lại làm thương cả 5 Tạng (1) .
Âm tinh sinh ra, gốc tự Ngũ-​vị ; thần của 5 Tạng bị thương bởi năm vị (2) .
Vì vậy nên :
_ Vị nếu quá chua, Can-​khí bị đẫm ướt, Tỳ-​khí sẽ bị tuyệt (3) .
_ Vị nếu quá mặn, Đại-​cốt nhọc mệt, cơ nhục bị sút Tâm-​khí bị chèn nén (4) .
_ Vị nếu quá ngọt, Tâm-​khí thở gấp và đầy ; da sạm đen,Thận-​khí không yên (5) .
CHÚ GIẢI :________________________________________________________________________________
(1)_. Khí của 4 mùa là PHONG-​HÀN-​THỬ-​THẤP.
Câu này tỏ ra : chẳng những sự khí hóa của Âm Dương mắc bịnh, mà cả vật hữu hình là 5 Tạng cũng bị mắc bịnh, vì bịnh lâu thời truyền hóa.
(2)_. Thần khí sinh ra bởi Âm-​tinh : tinh của 5 Tạng sinh ra bởi 5 vị_. thương bởi 5 vị, vì trong 5 vị có một vị “thiên thắng” nhiều hơn.
TOAN sinh Can, KHỔ sinh Tâm, CAM sinh Tỳ, TÂN sinh Phế, HÀM sinh Thận. Đó là Âm-​tinh sinh ra bởi 5 vị.
(3)_. Vị Toan (chua) vào Gan, nếu chua quá thời Can nhiều tân dịch nên đẫm ướt ; Can đã bị đẫm ướt, Tỳ không chuyển du vào đâu, nên Tỳ-​khí bị tuyệt.
(4)_. ĐẠI CỐT tức là Phủ của Thận. Vị mặn quá thời thương Thận, nên Đại-​cốt bị thương ; Thủy tà thịnh phạm lên Thổ (Tỳ) nên cơ nhục sút. Thủy dẫn ngược xâm lấn vào Tâm, nên Tâm-​khí như bị chèn nén.
(5)_. Vị quá Ngọt, thời Thổ-​khí (Tỳ) quá đầy đủ rồi. Thổ đã quá đầy đủ, thời Tâm không còn có thể truyền sang cho con nó nữa (Hỏa sinh Thổ ; Tâm là mẹ, Tỳ là con) ; vì thế nên thành chứng THỞ GẤP VÀ ĐẦY. Thận chủ về Thủy, sắc nó đen ; Thổ can (khô ráo, quá găng) quá thời làm thương đến Thận, nên mới hiện ra ngoài da sạm đen và Thận khí không yên.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
_. Vị nếu quá đắng (KHỔ), Tỳ-​khí không thấm nhuần, Vị khí sẽ quá hậu (1) .
_. Vị nếu quá cay (TÂN), gân mạch rã rời, tinh thần sẽ bị hại (2) .
Vì thế phải cẩn thận điều hòa 5 vị, khiến cho xương cứng gân mềm, khí huyết lưu thông, tấu lý sẽ bền chặc kín đáo.
Như thế sẽ được vô bịnh và sống lâu (3) .
CHÚ GIẢI :________________________________________________________________________________
(1)_. Đường “LẠC” của Dương-​Minh thuộc Tâm, cái khí của “tử-​mẫu” cùng gi­ao thông liên lạc với nhau. Năm vị vào Vị, vị đắng dẫn lên Tâm trước. Vậy nếu quá đắng thời mẫu-​khí thịnh (Tâm) và Vị sẽ cường. Vị cường thời cùng với Tỳ-​âm không liên lạc nữa. Do đó Tỳ không chuyển du tân-​dịch cho Vị, mất cái năng lực thấm nhuần, Vị-​khí sẽ thành quá hậu (hậu : là tà khí hữu dư – có thừa).
(2)_. Kim-​khí (Phế) thiên thịnh thời Can sẽ bị thương, gân mạch do đó mà rã rời (vì Can chủ gân) mà tinh thần cũng bị hại lây….
(3)_. Thận tàng tinh mà chủ về xương, Can tàng huyết mà chủ về gân. Phong phạm vào Dương khí (tức thứ khí bảo vệ ngoài bì phu) thời cái “tà” đó sẽ làm thương đến gan, tinh cũng do đó mà bị mất. Giờ biết cẩn thận điều hòa 5 vị, thời xương sẽ cứng, mà gân cũng mềm ; tấu lý do đó mà bền chặt kín đáo (tà còn phạm sao được).
Đó chính là bởi Dương-​khí sinh ra tự Âm-​tinh mà thi hành cái nhiệm vụ, đối với bên ngoài. Người ta nếu hiểu biết được cái lẽ Âm-​Dương và cái nhiệm vụ đối với bên trong và bên ngoài của nó, mà đừng làm quá nhọc mệt để hại đến Dương, cẩn thận điều hòa 5 vị để nuôi lấy Âm, thời Âm-​Dương sẽ hòa bình ; còn ngại gì tật bịnh, còn lo gì không sống lâu.
---------- o0o -----------
TIỂU DẪN ________________________________________________________________________
CHƯƠNG 4
KIM-​QUỸ CHÂN NGÔN LUẬN (1)
KINH VĂN ________________________________________________________________________

Hoàng-​Đế hỏi :
_. Trời có 8 thứ gió, kinh có 5 thứ gió, là nghĩa thế nào ? (2)
Kỳ-​Bá thưa :
_. Tám thứ gió nếu là “tà phong” , phạm vào kinh tức thành kinh-​phong ; nó xâm vào 5 Tạng, bịnh sẽ do đó mà phát sinh (3) .
CHÚ GIẢI :________________________________________________________________________________
(1)_. KIM QUỸ : là cái hòm bằng vàng ; CHÂN NGÔN : là lời nói rất đúng, chỉ bậc Thánh nhân biết đạo mới có thể nói.
(2)_. Tám thứ gió là luồng gió của 8 phương. Kinh tức là đường-​kinh-​mạch của 5 Tạng. Năm thứ gió là phong tà phát sinh từ 5 kinh.
(3)_. Đây nói : thứ gió đó nếu ở Trời thời là luồng gió của 8 phương ; nếu ở người thời nó sẽ biến thành tà phong của 5 kinh và 5 tạng.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Chỉ cần được cái “ sở thắng” của 4 mùa (tức là cái chủ khí, cái vượng của nó). Tỉ như Xuân thắng Trưởng-​Hạ, Trưởng-​hạ thắng Đông, Đông thắng Hạ, Hạ thắng Thu, Thu thắng Xuân. Đó tức là cái sở thắng của nó. (1)
CHÚ GIẢI :________________________________________________________________________________
(1)_. Cái sở thắng của 4 mùa như : Xuân chủ Mộc, Hạ chủ Hỏa, Trưởng-​Hạ chủ Thổ (tháng 6), Thu chủ Kim, Đông chủ Thủy …. Vậy nó sẽ thắng như: Xuân thắng Trưởng-​Hạ ….. (tức là khắc : Mộc khắc Thổ …..)
Bởi 5 Tạng nhân thời mà vượng nên nó mới có thể thắng cái không thắng.
Tiết trên nói về 8 thứ gió phát sinh bịnh, tức là do cái “phong-​sở-​thắng” nó khắc cái “thời-​bất-​thắng”.
Tiết dưới nói được cái “khí-​sở-​thắng” của 4 mùa, nên mới có thể thắng được cái bất thắng.

KINH VĂN ________________________________________________________________________
Đông-​phong sinh về mùa Xuân, bịnh phát tại CAN-​DU và Cảnh-​Hạng ; Nam-​phong sinh về mùa Hạ, bịnh phát tại TÂM-​DU và Hung-​Hiếp ; Tây-​phong sinh về mùa Thu, bịnh phát tại PHẾ-​DU và Kiên-​Bối ; Bắc-​phong sinh về mùa Đông, bịnh phát tại THẬN-​DU và Yêu-​Cổ ; Trung ương là Thổ, bịnh phát tại TỲ-​DU và Tích. (1)
CHÚ GIẢI :________________________________________________________________________________
(1)_. Đoạn này nói về chính khí của 4 mùa, cũng có thể gây nên bịnh cho kinh-​du thuộc 5 Tạng. Người ta sinh ra bởi 5 Hành, nhờ có Phong-​khí (như bây giờ gọi là không-​khí) mà sinh trưởng. Nhưng phong-​khí dù hay sinh ra muôn vật, mà nó cũng có thể làm hại muôn vật. Cũng như nước có thể làm nổi được thuyền, mà cũng có thể làm đắm được thuyền. Vì vậy, nên đây bắt đầu nói ngay đến Phong : khí làm hại 5 Tạng, rồi sau mới nói đến 5 Tạng nhờ ở 5 khí của 5 phương mà sinh ra -. DU là cái huyệt của kinh-​khí phát sinh từ đấy.
Trên đây nói : Đông-​phong sinh về mùa Xuân….. đó là nói về Tạng-​khí THỰC, thời chỉ bịnh ở KHÍ, nếu Tạng khí HƯ : sẽ bịnh ở Tạng.
Từ đây trở xuống nói phân biệt thêm cho rõ : CẢNH là cổ ; HẠNG là gáy ; HUNG-​HIẾP là lồng ngực và sườn ; KIÊN-​BỐI là vai và lưng ; YÊU-​CỔ là ngang thắt lưng và vế ; TÍCH là đường xương sống,.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Cho nên về Xuân-​khí thường phát bịnh tại đẦu ; về Hạ-​khí thường phát bịnh tại TẠNG ; về Thu-​khí thường phát bịnh tại KIÊN BỐI ; về Đông-​khí thường phát bịnh tại TỨ-​CHI. (1)
(1)_. KHÍ : tức là chỉ về khí của 4 mùa và 5 Tạng. Can du ở Cảnh-​Hạng, mà mùa Xuân phát bịnh tại đầu. là vì Xuân khí thời thăng lên, Dương-​khí cũng ở về bộ phận trên. Cho nên nếu bịnh về khí thời phát tại trên ; nếu “bịnh về Kinh” thời phát bịnh phát tại cảnh-​hạng. Vì thế nên dưới đây có chỗ nói về bịnh tại khí, có chỗ nói về bịnh tại kinh v.v…. đều là phân biệt hư-​thực của Tạng-​khí và Kinh-​du vậy.
Mùa Hạ Dương-​khí phát tiết ra ngoải, Tạng-​khí bị hư ở bên trong, nên phong-​khí thừa mà phạm vào Tạng.
Thu-​khí chủ về sự thâu giáng, không thể bảo vệ được bì-​phu, cơ-​tấu ; nên phong-​khí mới phạm vào Du.
Tứ chi là nơi gốc của khí Dương. Đông khí ẩn nấp vào bên trong, dương khí bị hư ở bên ngoài, nên mới phát bịnh tại TỨ CHI.
Trở lên, nói về cái khí của 4 mùa và 5 Tạng.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Cho nên mùa Xuân thường hay sinh bịnh TỴ-​NỤC ; tháng Trọng-​Hạ (tháng5) thường hay sinh bịnh ĐÔNG-​TIẾT, HÀN-​TRUNG (đi tả và lạnh ở bên trong). Mùa Thu hay sinh bịnh PHONG-​NGƯỢC ; mùa Đông thường hay sinh bịnh TÝ, QUYẾT (tê đau và giá lạnh tay chân). (1)
(1)_. Trên đây thường hay dùng 2 chữ “thường hay” là nói về Kinh-​du của 5 Tạng đều ở bộ phận ngoài, phong làm thương cơ-​tấu thời dể lọt vào kinh.- TỴ-​NỤC tức đổ máu cam (máu chảy ra ở mủi) vì bịnh tại đầu nên Tỵ-​nục.
Kinh-​du của Tâm ở Hung-​hiếp. Nên bịnh tại đấy.
CHU-​TẾ-​CÔNG hỏi : “Chỉ nói bịnh ở Hung-​hiếp mà không nói chứng trạng, là vì sao ?
-. Đáp : Về 3 đoạn trên và dưới đây đều phản phúc biện luận về sự “xuất, nhập“ của Tạng-​khí và Kinh-​du, cho nên chỉ nói “bịnh tại đầu, tại tạng, tại kiên-​bối và hung-​hiếp v.v..... mà không nói là bịnh gì ; đến như các chứng tỵ-​nục, đông-​tiết .... là nói về bịnh thuộc kinh mà tại đầu thời có chứng tỵ-​nục, bịnh thuộc kinh mà tại phúc thời có chứng đông-​tiết và hàn-​trung.... Tuy nhiên, mấy đoạn đây vẫn không chú trọng về chứng trạng.
Mùa Hạ, Dương khí ở bên ngoài, nên Lý-​khí hư hàn. Tháng Trưởng-​hạ Thấp-​Thổ chủ khí, phong lọt vào kinh-​du, tức phạm vào trong mà thành chứng đông-​tiết, đó là “phong Mộc thừa hư mà thắng Thổ“.-. Tỳ là một chí âm ở trong âm không thể hóa được nhiệt nên mới thành chứng hàn-​trung.
Mùa Thu, dương khí thâu liễm vào bên trong, âm khí dẫn ra bên ngoài. Tà với chính gặp nhau ở khoảng “NỘI với NGOẠI“ gi­ao tiếp, hai bên cùng xung đột lẫn nhau thành chứng PHONG-​NGƯỢC (sốt-​úi).
Tứ chi là gốc của mọi khí Dương. Mùa Đông dương khí ẩn nấp ở bộ phận dưới, khiến cho kinh khí bị hư ở bên ngoài. Bị phong lọt vào kinh, nên tứ chi mắc chứng QUYẾT.
Trở lên nói về bịnh tại “KINH, LẠC”.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Cho nên về mùa Đông, nếu biết giữ gìn cẩn thận, không để cho Dương khí quá háo tán ra ngoài, thời sang Xuân sẽ không bị các chứng như Tỵ-​nục và bịnh ở Cảnh-​hạng ; Trọng-​Hạ không bị bịnh ở hung-​hiếp ; Trưởng-​Hạ không bị Đông-​tiết, hàn-​trung ; Thu không bị phong-​ngược ; Đông không bị Tý-​quyết và sôn-​tiết hãn-​xuất. (1)
(1)_. Đoạn này nói thêm : nếu giữ được Dương khí bền bĩ thời 4 mùa kinh-​du không bị mắc bịnh.
Lại nói thêm 2 chứng sôn-​tiết và hãn-​xuất để tỏ cho người ta biết rằng : con người nếu hay bảo trọng và giữ gìn cái khí Nguyên-​chân, thì không khi nào tà khí còn phạm được vào kinh mạch mà gây bịnh tại bên trong là sôn-​tiết ; cũng không khi nào phạm được vào Dương khí mà gây nên bịnh ở bên ngoài là hãn-​xuất vậy.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Nghĩ như TINH là cái gốc của sinh mệnh con người. Cho nên người biết tàng tinh (giữ gìn, dè dặt) thời mùa Xuân không mắc bịnh ÔN. Về mùa Hạ, nếu thử hãn (nắng nực ra mồ hôi) không tiết ra được, sang Thu sẽ thành bịnh PHONG-​NGƯỢC v.v.... đó là mạch pháp của bình-​nhân (người thường, vô bịnh). (1)
(1)_. Thần khí với huyết mạch sinh ra bởi Tinh, cho nên nói : “TINH là gốc của sinh mệnh”. Biết tàng được tinh, thời huyết khí giữ bền ở bên trong, còn tà nào phạm được vào bên ngoài, cho nên không mắc phải bịnh Ôn _. Về mùa Hạ cần phải có thử-​hãn, nếu thử hãn không tiết ra được, đến mùa Thu gặp tiết thâu tàng, hai khí xung đột nên mới sinh chứng Phong-​ngược.
Thiên này chuyên bàn về KINH-​MẠCH, nên đây nói là mạch pháp của bình nhân.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Cho nên nói rằng trong Âm có Âm, trong Dương có Dương.
- Từ sáng sớm đến đúng trưa là Dương trong Dương ;
- Từ đúng trưa đến hoàng hôn là Âm ở trong Dương ;
- Từ chập tối đến gà gáy là Âm ở trong Âm ;
- Từ gà gáy đến sáng sớm là Dương ở trong Âm ;
Tấm thân của con người cũng ứng theo như vậy. (1)

(1)_. Từ gà gáy đến sáng sớm Dương khí mới phát triển, ứng với cái khí Xuân sinh, cho nên thuộc về Dương ở trong Âm ; Từ sáng sớm đến đúng trưa, Dương khí đương lúc thịnh, ứng với cái khí Trưởng-​hạ, cho nên thuộc về Dương ở trong Dương ; từ đúng trưa đến hoàng-​hôn, Dương khí mới bắt đầu suy, ứng với cái khí mùa Thu, cho nên thuộc về Âm ở trong Dương ; từ chập tối đến gà gáy, Dương khí thu về bên trong ứng với mùa Đông, cho nên thuộc về Âm ở trong Âm.
- Cho nên nói rằng : trong một ngày cũng có 4 mùa, mà cái khí Âm Dương ở con người “xuất nhập” trong một ngày cũng có 4 mùa. Vì thế nên mạch pháp của bình nhân cũng ứng theo vậy.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Nói về Âm Dương thuộc con người thời : ngoài là Dương, trong là Âm ; nói riêng về tấm thân con người thời : sau lưng là Dương, trước bụng là Âm. Nói về Âm Dương Tạng-​phủ trong con người thời Tạng là Âm, Phủ là Dương.
Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận là 5 Tạng đều thuộc Âm (1) .
Đởm, Vị, Đại-​trường, Tiểu-​trường, Bàng-​quang, Tam-​tiêu là 6 Phủ đều thuộc Dương. (2)
(1)_. Thiên này bắt đầu nói đến đường lối của kinh-​mạch. Kinh mạch bên trong liền với Tạng-​phủ, bên ngoài chằng khắp thân hình. _. Âm Dương ra vào, trong ngoài tuần hoàn. Vì thế nên bao tác dụng “ sinh, trưởng, thâu, tàng” đều ứng theo với mạch pháp của con người.
-. Trong thân con người, ĐỐC-​MẠCH dẫn lên lưng,cai quản toàn thể khí Dương. Trong thân hình, NHÂM-​MẠCH vòng lên bụng cai quản toàn thể khí Âm ... nên mới nói : “lưng là Dương, bụng là Âm.....”
(2)_. Kinh mạch sinh ra bởi 5 Hành thuộc Đất, ứng với 6 khí thuộc Trời ..... cho nên phàm nói về kinh-​mạch trước phối hợp với 5 tạng, 5 hành, rồi sau mới bàn tới 6 phủ.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Sở dĩ muốn biết Âm ở trong Âm, Dương ở trong Dương là vì : mùa Đông bịnh tại Âm, mùa Hạ bịnh tại Dương, mùa Xuân bịnh tại Âm, mùa Thu bịnh tại Dương.... Biết được bịnh tại đâu, có thể dùng CHÂM-​THẠCH để diều trị. (1)
(1)_. Đông bịnh tại Thận ; Thận là Âm ở trong Âm, nên nói “Đông bịnh tại Âm” ; Đông bịnh tại Thận ; Thận là Âm ở trong Âm, nên nói “Đông bịnh tại Âm” ; Hạ bịnh tại Tâm ; Tâm là Dương ở trong Dương, nên nói “Hạ bịnh tại Dương” ; Xuân bịnh tại Can ; Can là Dương ở trong Âm, nên nói “Xuân bịnh tại Âm” ; Thu bịnh tại Phế ; Phế là Âm ở trong Dương, nên nói “Thu bịnh tại Dương”. Châm-​thạch là thứ dùng để chữa bịnh tại kinh-​mạch. Biết được Âm trong Âm, Dương trong Dương, thế nào rồi, mới nhằm vào kinh-​du của 5 Tạng, dùng châm thạch để điều trị.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Cho nên lưng thuộc Dương, mà Dương ở trong Dương, tức là TÂM, nếu Âm ở trong Dương tức là PHẾ. Phúc (bụng) thuộc Âm, mà Âm ở trong Âm, tức là THẬN, nếu Dương ở trong Âm lại là CAN. Phúc thuộc Âm, nếu Chí-​Âm ở trong Âm lại là TỲ. (1)
Đó đều là sự du-​ứng của Âm-​Dương, Biểu-​lý, Nội-​ngoại, Tạng-​Phủ vậy.
(1)_. VƯƠNG THỊ nói : TÂM thuộc về Dương-​tạng, bộ vị nó thuộc về thượng-​tiêu ; Dương ở vào địa vị của Dương, nên nói là “Dương ở trong Dương” ; PHẾ thuộc về Âm-​tạng, bộ vị nó ở vào Thượng-​tiêu ; Âm ở vào địa vị Dương, nên nói là “Âm ở trong Dương”. THẬN thuộc Âm tạng, bộ vị nó ở vào Hạ-​tiêu, Âm ở vào địa vị Âm, nên nói là “Âm ở trong Âm”. CAN thuộc vào Dương-​tạng, bộ vị nó ở vào Hạ-​tiêu, Dương ở vào địa vị Âm, nên nói là “ Dương ở trong Âm”. TỲ thuộc vào Âm-​tạng, bộ vị nó ở vào Trung-​tiêu, Thái-​âm ở vào địa vị Âm, là “Chí-​âm ở trong Âm”.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Hoàng-​Đế hỏi :
- Năm Tạng ứng với 4 mùa, vậy có sự thâu-​thụ (tiếp nhận, liên lạc) gì không ? (1)
Kỳ-​Bá thưa :
- Có. Đông phương sắc XANH, thông vào Can, khai khiếu lên mắt, tàng tinh ở CAN (2) : phát ra bịnh KINH SỢ (3) . Về vị là CHUA, thuộc về loài thảo mộc (4) . thuộc về lục-​súc là GÀ (5) ; thuộc về ngũ-​cốc là LÚA MẠCH (6) ; thuộc về 4 mùa trên ứng với TUẾ-​TINH (7) ; xuân-​khí thuộc về bộ phận ĐẦU (8) ; về âm (thanh) là tiếng GIÁC (9) ; thuộc về số là số 8 (10) ; thuộc về mùi (hơi ngửi thấy) là SÚ (mùi hôi) (11) _. Do đó biết là thường phát sinh bịnh ở GÂN (Can chủ gân) (12).
(1)_. Ý nói 5 Tạng đã ứng với Âm Dương 4 mùa, vậy phải có khí sắc gì để hợp với khí sắc của 5 phương và Âm Dương của 4 mùa v.v....
(2)_. Tinh khí của Can khai khiếu lên mắt, mà lại thông với Thiên-​khí. Đó tức là Trời thông với người, mà người lại thông với Trời. Còn Âm tinh thời lại tàng về chính Tạng của nó.
(3)_. Mùa Xuân Dương khí bốc lên, nên bịnh phát sinh cũng có vẻ chẩn đãng mà thành kinh sợ.
(4)_. Can thuộc Mộc, với thảo mộc cùng một loài.
(5)_. Kê : gà, thuộc quẻ TỐN, chủ về phương Đông.
(6)_. Mạch : một thứ đứng hàng đầu ngũ-​cốc, nên ứng về Đông-​phương.
(7)_. Tinh khí của Mộc ứng lên Tuế-​tinh.
(8)_. Giác : là một âm thuộc về Mộc, ứng về mùa Xuân.
(10)_. DỊCH nói: “Thiên cho số 3 sinh ra Mộc, Địa do số 8 mà hợp thành, nên nói số của Can là 8”.
(11)_. Hôi : một thứ khí thuộc Mộc.
(12)_. Can chủ gân nên bịnh tại gân.
* . Ngũ âm, ngũ số ứng theo với khí vô hình của Trời. Bì, nhục, gân, xương ứng theo với cái hữu-​hình của Đất. Lấy cái ứng vô hình của Trời mà sinh bịnh tới cái hữu hình là gân xương của người, đó là do sự khí hóa gi­ao cảm mà nên _. Âm tinh của 5 Tạng, nhờ Tâm thần nó hóa ra sắc đỏ mà thành máu. Ở đây bàn về huyết mạch của Tạng phủ, nên nói : “tàng tinh ở CAN”.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Nam-​phương sắc ĐỎ, thông vào với TÂM, khai khiếu lên TAI, tàng tinh ở TÂM (1) . Bịnh phát sinh ở cả 5 Tạng (2) ;về vị là ĐẮNG và thuộc về HỎA (3) , thuộc về lục-​súc là DÊ, thuộc về ngũ cốc là THỬ (4) , thuộc về 4 mùa trên ứng với sao HUỲNH-​HOẶC (5) ,thuộc về âm thanh là tiếng CHỦY (6) , thuộc về số là số 7 (7) , thuộc về mùi là mùi HẮC (8) _. Do đó biết là thường sinh bịnh ở MẠCH (9) .
(1)_. Tâm thuộc Hỏa nên cũng sắc Đỏ.
_ TÀ KHÍ TẠNG PHỦ LUẬN nói : bao khí huyết ở 12 kinh mạch với 365 lạc ..... đều dẫn lên mặt rồi chạy ra không-​khiếu (lỗ hổng, chổ rỗng), riêng một thứ khí khác chạy ra tai để làm thành sự “nghe” _. “BIỆT-​KHÍ” tức là khí của Tâm.
(2)_. Bịnh... ở cả 5 Tạng, tức là chỉ về các khí của 5 Tạng. Tâm là một cơ quan chủ tể cả 5 Tạng 6 Phủ, cho nên Tâm khí mắc bịnh, thời khí của các Tạng khác cũng đều mắc bịnh.
(3)_. ĐẮNG là vị của Hỏa. Tâm khí thông với Nam-​phương, nên cùng với hành Hỏa ở trong Ngũ-​hành cùng loài
(4)_. THỬ : là một thứ lúa có sắc đỏ, mà tính ÔN (ấm) nên là thứ lúa của Tâm.
(5)_. HUỲNH HOẶC là “ tinh” của Hỏa.
(6)_. CHỦY là một âm thuộc Hỏa, ứng về mùa Hạ.
(7)_. Dịch nói : Thiên do số 2 sinh ra Hỏa, Địa do số 7 mà hợp thành, nên nói : “số của Tâm là 7”.
(8)_. Khí bị hỏa đốt cháy, thời thành mùi HẮC. Nguyên chữ Hán là “TIÊU”.
(9)_. Tâm chủ về mạch, nên bịnh tại MẠCH.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Trung ương sắc VÀNG thông vào với TỲ, khai khiếu lên miệng. Tàng tinh ở Tỳ (1) . Bịnh phát sinh ở cuống lưỡi (2) , về vị là NGỌT, và thuộc về THỔ (3), thuộc về lục-​súc là BÒ (4) , thuộc về ngũ-​cốc là TẮC (5) , thuộc về 4 mùa, trên ứng với sao CHẨN (6) , thuộc về âm là CUNG (7) , thuộc về số là NĂM (8) , thuộc về mùi là mùi THƠM (9)_. Do đó biết là thường sinh bịnh tại NHỤC (thịt) (10) .
(1)_. Thổ vượng về cuối 4 mùa, bộ vị ở vào khoảng giữa, TỲ thuộc về Thổ-​tạng, nên khí cũng thông nhau.
(2)_. LINH-​KHU nói : “Tỳ chủ về việc đón tiếp lương thực, lấy miệng lưỡi để biện-​biệt sự yêu ghét và cát-​hung”
Xem đó thời biết Tỳ-​khí thông lên LƯỠI.
(3)_. Tỳ thuộc Thổ, không có vị, lấy vị của lúa nên vị NGỌT. Thuộc hành Thổ ở trong ngũ-​hành.
(4)_. BÒ: nguyên chữ Hán là “ngưu”. Còn về trâu : nguyên chữ Hán là “thủy ngưu”. Bò sắc Vàng nên là giống nuôi của Tỳ.
(5)_. Lúa Tắc sắc vàng, vị ngọt, nên cũng thuộc Tỳ.
(6)_. Sao CHẨN thuộc Thổ.
(7)_. Tiếng CUNG thuộc Thổ.
(8)_. DỊCH : Thiên lấy số 5 sinh ra THỔ, Địa lấy số 10 mà hợp thành. Thổ chuyên ở ngôi “NĂM”, nên riêng chủ về sinh-​số”.
(9)_. Khí nhân Thổ biến, thành mùi Thơm.
(10)_. Tỳ chủ cơ-​nhục, nên sinh bịnh tại NHỤC.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Tây-​phương sắc TRẮNG, thông vào với phổi, khai khiếu ở MŨI, tàng tinh ở PHẾ (1) . Bịnh phát sinh ở VAI, về vị là CAY (tân) và thuộc về KIM(2) , thuộc về lục-​súc là NGỰA (3) , thuộc về ngũ-​cốc là ĐẠO (4) , thuộc về 4 mùa trên ứng với sao THÁI-​BẠCH (5) , thuộc về âm là THƯƠNG (6) , thuộc về số là số 9 (7) , thuộc về mùi là mùi TANH (8) _. Do đó biết là thường sinh bịnh tại BÌ-​MAO (9) .
(1)_. Phế thuộc Kim, nên theo sắc Trắng của Tây-​phương, MŨI là khiếu của Phế.
(2)_. Cảm thụ khí sinh bịnh tại VAI và LƯNG.
(3)_. Quẻ CÀN thuộc Ngựa, Phế thuộc CÀN-​KIM.
(4)_. Đạo : sắc trắng, nên là thứ lúa của Phế-​Tỳ cốc.
(5)_. Tinh khí của loài Kim, ứng lên sao Thái-​bạch.
(6)_. THƯƠNG : một thứ tiếng chủ về phương Tây.
(7)_. DỊCH : “Địa lấy số 4 sinh ra KIM, Thiên lấy số 9 mà hợp thành, nên Phế là số 9.”
(8)_. Khí nhân Kim biến thành mùi TANH.
(9)_. Phế chủ Bì-​mao, nên biết là bịnh tại BÌ-​MAO.
KINH VĂN ________________________________________________________________________

Bắc-​phương sắc ĐEN, thông vào với THẬN, khai khiếu ở NHỊ-​ÂM (tiền âm, hậu âm), tàng tinh ở THẬN (1) . Bịnh phát sinh ở KHÊ (2) , về vị là MẶN (hàm) và thuộc về THỦY (3) , thuộc về lục-​súc là LỢN (4) , thuộc về ngũ-​cốc là ĐẬU (5) , thuộc về 4 mùa trên ứng với sao THẦN (6) , thuộc về âm là VŨ (7) , thuộc về số là số 6 (8) , thuộc về mùi là mùi HÚC-​MỤC (9)_. Đó biết là thường sinh bịnh tại XƯƠNG (10) .
(1)_. Thận thuộc THỦY, nên theo sắc ĐEN của Bắc-​phương, bộ vị của Thận ở dưới nên khai khiếu ra Nhị-​âm.
(2)_. Chỗ đại hội của nhục gọi là “cốc”, chổ tiểu hội của nhục gọi là “khê” _. Đại hội, tiểu hội tức là nơi khớp xương nhỏ liên lạc với nhau, một làn thịt mỏng bao bọc ngoài xương tức là KHÊ. Thận vốn chủ xương, mà Khê là do khí của Cốc sinh ra.
(3)_. MẶN là nguyên chất của nước (thủy).
(4)_. LỢN sắc đen, thuộc HỢI, nên là giống nuôi của Thận.
(5)_. ĐẬU ĐEN sắc đen, tính trầm xuống, nên là Thận-​cốc.
(6)_. Thận tinh thuộc THỦY.
(7)_. VŨ : một thứ tiếng thuộc THỦY.
(8)_. Thiên lấy số 1 sinh ra Thủy, Địa lấy số 6 mà hợp thành, nên số 6 thuộc THẬN.
(9)_. HÚC-​MỤC : mùi thối nát.
(10)_. Thận chủ về xương, nên bịnh tại XƯƠNG.
KINH NÓI : Can sinh cân, Tâm sinh huyết, Tỳ sinh nhục, Phế sinh bì-​mao, Thận sinh cốt ..... Vậy cân, cốt, bì mao..... đều do 5 Tạng sinh ra, nên Tạng nào mắc bịnh thì cái sinh ra cũng mắc bịnh.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Vậy nên người giỏi về xem mạch : phải xét rõ sự “nghịch tòng” của 5 Tạng, 6 Phủ và cái giềng mối của Âm-​Dương, Biểu-​lý, Tạng-​phủ.... ghi nhớ ở trong tâm-​ý, hợp với tinh thần sẽ biết được rõ rệt, khỏi phải hồ đồ, thế là đắc đạo.
Đoạn này nói tổng kết cái đường lối của kinh mạch, sinh ra ở 5 Tạng, liên lạc với 6 Phủ, ngoài hợp với 5 Phương, 5 Hành và Âm-​Dương 6 khí. Trái với 4 mùa là “NGHỊCH”, thuận với 4 mùa là “TÒNG”.
------ o0o ------
TIỂU DẪN ________________________________________________________________________
CHƯƠNG 5
ÂM-​DƯƠNG ỨNG TƯỢNG ĐẠI LUẬN (1)
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Hoàng-​Đế nói :
._ Âm-​Dương là đạo của Trời đất (2) ; là giềng mối của muôn vật, là cha mẹ của sự biến hóa (3) , là gốc ngọn của sự sinh-​sái (4) , là cái kho chứa mọi sự THẦN MINH (5) .
(1)_. Thiên này nói về : Trời – Đất – Thủy – Hỏa , 4 mùa, 5 Hành, hàn nhiệt, khí, vị, hợp với Tạng-​phủ của con người ; hình, thân, thanh, trọc, thành tượng thành hình ..... Đều hợp với cái đạo của Âm-​dương. Cho đến chân mạch, sát sắc, trị liệu, châm biêm v.v..... đều phải bắt chước ở Âm-​dương ; nên gọi là “ỨNG TƯỢNG ĐẠI LUẬN” .
(2)_. ĐẠO : tức là cái lẽ của Âm-​dương. Thái-​cực “tĩnh” mà sinh Âm, “động” mà sinh Dương. Trời sinh ra bởi động, đất sinh ra bởi tĩnh, nên gọi ÂM-​DƯƠNG là đạo của Trời-​đất.
(3)_. Vật sinh ra gọi là “HÓA”, vật đến cực gọi là “BIẾN”.
DỊCH nói : “ở trời thành TƯỢNG , ở đất thành HÌNH ; sự biến hóa phát hiện ở đó”.
CHU-​TỬ nói : “biến là cái “TIỆM” của hóa, hóa là sự “THÀNH” của biến.,”
Âm có thể biến thành Dương, Dương có thể biến thành Âm ; cái đạo biến hóa do âm-​dương sinh ra, nên gọi là CHA-​MẸ.
(4)_. Trời lấy Dương để sinh ra, Đất lấy Âm để nuôi lớn. Đất lấy Dương để giảm đi, Trời lấy Âm để tiềm tàng.
(5)_. Âm-​dương biến hóa không thể lường được nên gọi là THẦN-​MINH.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Trị bịnh phải tìm tới gốc (1) . Nên biết rằng : tích lũy nhiều Dương là Trời, tích lũy nhiều Âm là đất (2) . Âm thời tĩnh, Dương thời táo (3) ; dương sinh ra, âm nuôi lớn, dương giảm đi, âm tiềm tàng (4) . Dương hóa khí, âm thành hình (5) ; hàn cực sinh ra nhiệt, nhiệt cực sinh ra hàn (6) . khí hàn sinh ra chất trọc (đục), khí nhiệt sinh ra chất thanh (trong). Thanh-​khí ở bộ phận dưới thời sinh chứng SÔN-​TIẾT, trọc khí ở bộ phận trên thời sinh chứng ĐIỀN-​TRƯỚNG (đầy tức).
Đó là Âm-​dương ở trong người do sự “nghịch, tòng” mà sinh bịnh vậy (7) .
(1)_. GỐC : tức là chỉ về Âm-​dương . tạng, phủ, khí, huyết, biểu, lý, thượng, hạ, ở trong tấm thân con người, đều gốc ở Âm-​dương ; cho tới cái khí phong , hàn, thử, thấp, 4 mùa, 5 hành ... do từ bên ngoài phạm vào, cũng đều thuộc về 2 chữ Âm-​dương.
Đến như phương diện trị bịnh, lựa cái khí-​vị của dược-​vật, dùng “châm” bên tả hay hữu, xét mạch xem TRÌ hay TẬT, cũng không thể ra ngoài cái lý của Âm-​dương. Cho nên nói : “trị bịnh phải cầu tới gốc...”. Bịnh đó thuộc Dương-​tà hay Âm-​tà ? thuộc dương-​phận hay âm-​phận, khí-​phận hay huyết-​phận ?
Rồi nhân đó để lựa chọn đến dược vật, xem nên dùng những vị khí nó thăng hay giáng ? ẤM để bổ hay KHỔ để tiết ? ...... Đó, phương pháp cầu tới gốc là như vậy.
(2)_. TÍCH tức là “tích-​lũy”, chứa chất rất nhiều. Rất cao là Trời, rất dày là Đất. Tiếp theo câu trên, nói việc trị bịnh nên bắt chước cái Âm-​dương của Trời-​đất.
(3)_. Chất âm của đất chủ TĨNH mà có thường, khí Dương của trời chủ ĐỘNG mà không ngừng ...
(4)_. Mùa Xuân với mùa Hạ là 2 khí Âm-​dương của Trời, cho nên chủ về SINH và TRƯỞNG ; mùa Thu với mùa Đông là 2 khí Âm-​dương của Đất, cho nên chủ về SÁI và TÀNG.
(5)_. Trời chủ về sinh ra vật, Đất chủ về gây thành vật. cho nên Dương hóa cái khí của muôn vật, mà cái khí ở trong thân người cũng do Dương hóa ra. Âm thành cái hình của muôn vật, mà cái hình của con người cũng do Âm gây nên.
(6)_. Âm hàn Dương nhiệt là cái khí chính của Âm-​dương. Hàn cực sinh nhiệt, là Âm biến làm Dương ; nhiệt cực sinh hàn là Dương biến làm Âm.
_ THIỆU-​TỬ nói : “Lúc bắt đầu động thời Dương sinh, động đến cực độ thời Âm sinh ; Lúc bắt đầu tĩnh thời “NHU” sinh, tĩnh đến cực độ thời “CƯƠNG” sinh ; đó tức là cái nghĩa “Lão biến mà Thiếu không biến” ở CHU-​DỊCH. ” _. Cho nên cái lý Âm-​dương hể đến cực độ thời sinh biến. Tật bịnh ở con người cũng vậy. Như nhiệt quá thời sinh hàn : như những chứng NỘI NHIỆT quá đến cực độ, thời bên ngoài hiện ra rét run. Hàn quá lại nhiệt : như bịnh THƯƠNG HÀN mà phát nhiệt. Về phép trị bịnh cũng vậy, như người uống quá nhiều những vị khổ hàn rồi biến thành hỏa-​nhiệt.
(7)_. Hàn khí đọng xuống dưới, nên sinh ra trọc Âm. Nhiệt khí thượng thăng, nên sinh ra thanh Dương. Thanh khí chủ về Dương nên ở trên ; giờ lại ở dưới nên sinh chứng SÔN-​TIẾT (ăn vào lại tả ra), bởi vì chỉ giáng mà không thăng. Trọc khí chủ về Âm nên ở dưới, giờ lại ở trên nên sinh chứng ĐIỀN-​TRƯỚNG, bởi vì chỉ có thăng mà không giáng. Đó là âm-​dương tương phản mà sinh bịnh ; như thế tức là “NGHỊCH” , nếu trái lại sẽ là “TÒNG”. Cho nên nói : “trị bịnh phải cần tới cái gốc” , chính là vì tấm thân con người “hữu bịnh hay vô bịnh” đều do Âm-​dương nghịch tòng mà ra vậy.
Án : từ câu Dương hóa khí…. Trở xuống, đều đem âm-​dương của Trời đất hợp với âm-​dương trong tấm thân con người để tỉ-​lệ, không chuyên nói hẳn một bên nào.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Cho nên Thanh-​dương là Trời, Trọc-​âm là Đất. Khí đất bốc lên thành mây, khí trời giáng xuống thành mưa, mưa làm ra bởi ĐỊA-​KHÍ, mây làm ra bởi THIÊN-​KHÍ (1) . Thanh-​dương tiết lên thượng-​khiếu, trọc-​âm tiết xuống hạ-​khiếu (2) . thanh-​dương phát ra tấu-​lý, trọc-​âm chạy vào ngũ-​tạng (3) . thanh-​dương đầy đủ ở tứ-​chi, trọc-​âm quy tụ về Lục-​phủ (4) .
(1)_. Đoạn này tiếp với đoạn trên, nói về : cái địa vị âm-​dương có trên dưới khác nhau, mà cái khí của âm-​dương có “HỖ-​GI­AO” rồi sau mới thành được cái biến hóa “mây lên, mưa xuống” để hóa sinh ra muôn vật. thanh-​dương là Trời, trọc-​âm là Đất. Đất dù ở dưới mà hơi đất bốc lên thành mây. Trời dù ở trên mà khí trời giáng xuống thành mưa. Trời nhờ mây mà sau có mưa, nhưng mưa tuy từ trên trời rớt xuống, mà thực là do cái mây của hơi đất bốc lên, cho nên nói : “mưa làm ra bởi Địa-​khí” . Nhờ có mưa giáng xuống, mà sau mới có mây bốc lên. Nhưng mây tuy từ dưới đất bốc lên, mà thực là do cái mưa của khí trời giáng xuống ; cho nên nói : “mây làm ra bởi Thiên-​khí” . Đó là cái hiện tượng “ gi­ao-​hỗ” của âm-​dương, mà trong tấm thân của con người cũng có một hiện tượng như vậy.
(2)_. Thanh-​dương của người ứng theo với “Thiên” mà tiết ra thượng-​khiếu ; trọc-​âm của người ứng theo với “Địa” mà tiết ra hạ-​khiếu. Cũng như sự “lên xuống” của mây và mưa.
(3)_. Đây nói : cái khí thanh-​dương dẫn đạt ra tấu lý mà cái “tinh-​huyết” thuộc về trọc-​âm, thời chạy tới 5 Tạng. Vì 5 tạng chủ về việc tàng TINH.
(4)_. Câu này nói : cái khí thanh-​dương do uống ăn sinh ra thời dẫn ra tứ-​chi, còn những chất hồn-​trọc (cặn bã) thời dồn về 6 Phủ.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
THỦY là âm, HỎA là dương ; Dương là KHÍ, Âm là VỊ (1) . Vị theo về HÌNH, hình theo về KHÍ, khí theo về TINH, tinh theo về HÓA (2) . Tinh nhờ ở khí, Hình nhờ ở vị (3) . do Hóa sinh ra TINH, do Khí sinh ra HÌNH (4) .
(1)_. Tính của THỦY thấm nhuần xuống nên là Âm, tính của HỎA bốc ngược lên nên là Dương. Thanh-​dương bốc lên nên là KHÍ, trọc-​âm giáng xuống nên là Vị (ngũ vị, các thức ăn). Đó là do thủy-​hỏa mà xét ra âm-​dương của KHÍ và VỊ.
(2)_. Âm là VỊ, âm gây nên HÌNH ; đất cho người ăn 5 vị để nuôi cái hình ấy, cho nên nói “vị theo về Hình”. Dương hóa KHÍ, cái khí của “chư Dương” xuất dẫn ra bì phu cơ tấu, để sinh ra cái hình ấy, nên nói “hình theo về KHÍ” . Dương-​khí sinh ra bởi âm-​tinh, cho nên nói “khí theo về TINH” ; nhờ cái tinh-​khí của thủy-​cốc để hóa sinh ra các TINH ấy, nên nói “tinh theo về HÓA” .
(3)_. Nhờ cái tinh khí của thủy cốc để sinh ra tinh, đó tức là “TINH nhờ ở KHÍ” ; nhờ 5 vị vào VỊ để nuôi cái hình ấy, nên nói “HÌNH nhờ ở VỊ”.
(4)_. Nhờ cái tinh khí của thủy-​cốc để sinh ra tinh ; nhờ cái thần-​khí của “chư Dương” để nuôi cho HÌNH, ấy nên mới nói “do HÓA sinh ra TINH, do KHÍ sinh ra HÌNH”.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
VỊ làm thương HÌNH, KHÍ làm thương TINH (1) . Tinh hóa làm KHÍ, khí thương bởi VỊ (2) . Âm-​vị tiết ra hạ-​khiếu, Dương-​khí tiết ra thượng-​khiếu (3) . Vị HẬU thuộc về âm, BẠC thuộc về dương. Khí HẬU thuộc về dương, BẠC thuộc về âm (4) . Vị hậu thời tiết, bạc thời thông ; khí bạc thời phát tiết, hậu thời phát nhiệt (5) . cái khí của Tráng-​hỏa suy, thời cái khí của Thiếu-​hỏa tráng ; Tráng-​hỏa “thu-​hút” khí, khí “thu-​hút” Thiếu-​hỏa. Tráng-​hỏa làm tán khí, Thiếu-​hỏa sẽ sinh khí (6) ..
(1)_. Hình ăn về vị, tinh ăn về khí (vì do đó mà sinh ra nên gọi là ăn) ; nhưng sự “ăn” đó nếu thái quá thời sẽ bị thương, cũng như sự ăn uống thường vậy.
(2)_. Tinh là gốc của Nguyên-​khí, mà khí lại do tinh hóa ra. Hình ăn vị mà vị theo về hình.. Đến khi vị làm thương hình thời sẽ lây đến cả khí.
(3)_. Vị thuộc về loại có chất, nên dồn xuống 2 khiếu “tiện, niệu” (đại và tiểu tiện). Khí thuộc về loại vô hình nên tiết lên trên khiếu hô-​hấp.
(4)_. Vị thuộc về âm, mà “vị hậu” là thuần âm, nếu Bạc lại là dương trong âm. Khí thuộc về dương, mà “khí hậu” là thuần dương, nếu Bạc lại là âm trong dương. Đó là trong âm-​dương mà lại chia thêm một thứ âm-​dương khác nhau vậy.
(5)_. Vị hậu là âm ở trong âm, tính giáng xuống nên chủ về “hạ-​tiết” ; vị bạc là dương ở trong âm, tính bốc lên nên chủ về tuyên-​thông. Khí bạc là âm ở trong dương, tính giáng xuống, nên chủ về phát tiết ; khí hậu là dương ở trong dương, tính bốc lên, nên chủ về phát nhiệt. Tiết này bàn về âm-​dương, khí, vị và thăng giáng.
(6)_. Khí là dương, hỏa là dương ; hợp lại mà nói khí tức là HỎA. Cái khí của Thiếu-​dương Tam-​Tiêu sinh ra tự MỆNH-​MÔN, dẫn đi khắp trong ngoài, hợp với BÀO-​LẠC (thuộc TÂM) mà làm Tướng-​hỏa. Cái khí sơ sinh của Thiếu-​dương, dẫn xuống hạ-​tiêu để chủ về việc thu nạp, dẫn tới Trung-​tiêu chủ về việc sinh-​hóa. Nạp và hóa các chất tinh-​vi của thủy-​cốc để sinh ra KHÍ và nuôi HÌNH….. cho nên mấy câu này tiếp với đoạn trên nói về “5 vị thái quá thời sẽ thương đến KHÍ, mà Tráng-​hỏa thái quá cũng sẽ thương đến KHÍ (Tráng-​hỏa là một thứ hỏa nóng quá, Thiếu-​hỏa là một thứ hỏa nóng vừa vậy.) . Đoạn này có 2 tiếng TRÁNG-​HỎA và THIẾU-​HỎA là nói về cái nhiệt độ hơn kém của hỏa. Bởi những vị khí-​vị quá hậu tức là hỏa nó”TRÁNG”. Dùng những vị tráng-​hỏa, thời cái khí của con người không chống nổi, do đó mà hóa ra suy (như những vị Ô-​ĐẦU, PHỤ-​TỬ, : khí của con người không chống lại được nên phát nhiệt ). Những vị mà khí-​vị ÔN , tức là hỏa nó “THIẾU”. Dùng những vị thiếu-​hỏa, thời cái khí của con người sẽ dần sinh vượng mà thành tráng (như dùng những vị NHÂN-​SÂM, ĐƯƠNG-​QUY,… khiến cho khí huyết của con người dần nên sinh vượng).
Vì sao mà cái khí của tráng-​hỏa suy ?
Vì tráng-​hỏa có thể thu hút cả cái khí của con người, nên cái khí của tráng-​hỏa sẽ tự suy
Vì sao mà cái khí của thiếu-​hỏa lại tráng ?
Vì cái khí của con người có thể “thu hút” được cả cái khí của thiếu-​hỏa, nên cái khí của thiếu-​hỏa sẽ thành tráng. Bởi vì tráng-​hỏa có thể thu hút cái khí của con người nên nó lại làm “tán” cái khí của người nên mới nói : “khí của Thiếu-​hỏa tráng”.
Chữ “thu hút” trên đây, nguyên Hán-​văn là chữ “thực-​ăn”.
Chú giải của TRƯƠNG-​ẨN-​AM : “THỰC cũng như nhập vào, tức là dồn làm một” - Nguyên Hán-​văn : “Tráng-​hỏa thực KHÍ, KHÍ thực Thiếu-​hỏa” . chữ đặt rất gọn mà ý nghĩa rất hay, tiếc không tìm tiếng gì thay thế được.
Trương-​Ẩn-​Am nói : “Tướng-​hỏa (?- Tráng-​hỏa) là “TẶC” của Nguyên-​khí, muốn bảo dưỡng “TINH, KHÍ, HÌNH” ta nên dẹp yên hỏa ấy.
VƯƠNG-​TỬ-​PHƯƠNG nói : khí của tráng-​hỏa, khí của thiếu-​hỏa ; chữ khí đó tức là KHÍ của HỎA.
PHỤ LỤC _________________________________________________________________________
CẨN ÁN : Các y-​giả đời sau dụng dược, chỉ biết có HÀN, NHIỆT, ÔN, BÌNH ….. đến cái nghĩa Âm, Dương, Thanh, Trọc, thăng, giáng, phù, trầm …. Thời rất ít người lưu ý, nên ít được công hiệu ! LÝ-​ĐÔNG-​VIÊN cũng đã hiểu thấu nghĩa đó, ông có soạn “THANG DICH BẢN THẢO” tựu trung có thiên “Dụng dược pháp tượng” chuyên nói về lựa chọn dược-​vị, theo đúng với nghĩa trong thiên này, vậy xin phụ lục thêm vào đây để duyệt-​giả biết qua phương-​pháp dụng dược của cổ nhân. (Dịch giả)
DỤNG DƯỢC PHÁP TƯỢNG (LÝ-​ĐÔNG-​VIÊN)
1)- Những vị KHÍ-​BẠC là Âm ở trong Dương. Khí bạc thời phát tiết. Các vị có khí-​vị : TÂN – CAM – ĐẠM – BÌNH – HÀN – LƯƠNG …. Thuộc về loại ấy _ ví như :
1. PHỤC LINH : khí bình, vị cam 16. ĐỊA CỐT BÌ : khí hàn, vị khổ
2. TRẠCH TẢ : khí bình, vị cam 17. CHỈ XÁC : khí hàn, vị khổ
3. CHƯ LINH : khí hàn, vị cam 18. HỔ PHÁCH : khí binh, vị cam
4. HOẠT THẠCH : khí hàn, vị cam 19. LIÊN KIỀU : khí bình, vị khổ
5. CỒ MẠCH : khí bình, vị cam 20. CHỈ THỰC : khí hàn vị toan
6. SA TIỀN : khí hàn, vị cam 21. MỘC THÔNG : khí bình, vị cam
7. ĐĂNG TÂM : khí bình, vị cam 22. MẠN KINH : khí thanh, vị tân
8. NGŨ-​VỊ TỬ : khí hàn, vị toan 23. XUYÊN KHUNG : khí ôn, vị tân
9. TANG BÌ : khí hàn, vị khổ 24. THIÊN MA : khí bình, vị khổ
10. THIÊN MÔN : khí hàn, vị hơi khổ ? 25. TẦN GI­AO : khí hơi ôn, vị khổ, tân, bình
11. BẠCH THƯỢC : khí hơi hàn, vị khổ ? 26. KINH GIỚI : khí ôn, vị khổ, tân
12. MẠCH MÔN : khí hàn vị hơi khổ ? 27. MA HOÀNG : khí ôn, vị khổ, cam
13. TÊ GIÁC : khí hàn, vị toan, khổ ? 28. TIỀN HỒ : khí hơi hàn, vị khổ
14. Ô MAI : khí bình, vị toan 29. BẠC HÀ : khí ôn, vị khổ, tân
15. MẪU ĐƠN : khí hàn, vị khổ
2)- Những vị KHÍ-​HẬU là Dương ở trong Dương. Khí HẬU thời phát nhiệt. Các vị có khí-​vị : TÂN – CAM – ÔN – NHIỆT…… thuộc về loại này. Ví như :
1. PHỤ TỬ : khí nhiệt, vị đại tân 4. SINH KHƯƠNG : khí ôn, vị tân
2. Ô ĐẦU : khí nhiệt, vị đại tân 5. LƯƠNG KHƯƠNG :khí nhiệt, vị cam,tân
3. CAN KHƯƠNG : khí nhiệt, vị đại tân
3)- Những vị KHÍ VỊ BẠC là Dương ở trong Âm, vị Bạc thời thông. Các vị có khí-​vị : TOAN – KHỔ - HÀM – BÌNH ….. thuộc về loại này. Ví như :
1. PHÒNG PHONG : thuần Dương, khí hơi ôn, vị khổ, cam, bình.
2. THĂNG MA : khí bình, vị hơi khổ 7. ĐỘC HOẠT : khí hơi ôn, vị khổ, cam, bình
3. SÀI HỒ : khí bình, vị khổ, tân 8. TẾ TÂN : khí ôn, vị đại tân
4. KHƯƠNG HOẠT : khí hơi ôn, vị khổ, cam, bình 9. CÁT CÁNH : khí hơi ôn, vị cam, bình
5. UY-​LINH-​TIÊN : khí ôn, vị khổ 10. BẠCH CHỈ : khí ôn, vị đại tân
6. CÁT CĂN : khí bình, vị cam 11. CẢO BẢN : khí ôn, vị đại tân
12. THỬ NIÊM TỬ : khí bình, vị tân.
4)- Những vị KHÍ VỊ HẬU là Âm ở trong Âm, vị Hậu thời tiết. các vị có khí vị : CAM – KHỔ - HÀN thuộc về loại này, ví như :
1. ĐẠI HOÀNG : khí hàn, vị khổ 10. NHÂN TRẦN : khí hàn, vị khổ, binh
2. HOÀNG BÁ : khí hàn, vị khổ, cam 11. PHÁT TIÊU : khí hàn, vị khổ, hàm
3. HOÀNG CẦM : khí hàn, vị khổ 12. PHÒNG KỶ : khí hàn, vị đại khổ
4. HOÀNG LIÊN : khí hàn, vị khổ 13. MẪU LỆ :khí hơi hàn, vị toan, hàm
5. THẠCH CAO : khí hàn, vị tân 14. HUYỀN SÂM : khí hàn, vị khổ
6. LONG ĐỞM : khí hàn, vị đại khổ 15. CHI TỬ : khí hàn, vị khổ
7. SINH ĐỊA : khí hàn, vị khổ 16. XUYÊN LUYỆN TỬ : khí hàn, vị khổ
8. TRI MẪU : khí hàn, vị khổ 17. HƯƠNG THỊ (SỊ) : khí hàn vị khổ
9. QUA LÂU CĂN : khí hàn, vị khổ 18. ĐỊA DU : khí hơi hàn, vị cam, hàn
KINH VĂN ________________________________________________________________________

Khí vị TÂN, CAM, công năng của nó chuyên về phát tán, thuộc Dương ;
Khí vị TOAN, KHỔ, công năng của nó có thể dũng tiết, thuộc Âm (1) .
Âm thắng thời Dương sẽ mắc bịnh, Dương thắng thời Âm sẽ mắc bịnh. Dương thắng thời NHIỆT, Âm thắng thời HÀN (2) .
Gặp (trùng) hàn thời hóa nhiệt, gặp nhiệt thời hóa hàn (3).
Hàn làm thương HÌNH, Nhiệt làm thương KHÍ. Khí bị thương thành bịnh đau (thống), Hình bị thương thành bịnh thũng (4) .
Nếu trước đau mà sau mới thũng, đó là khí làm thương hình ; nếu trước thũng mà sau mới đau, đó là hình làm thương khí (5) .
(1)_. Khí với vị vốn đã chia âm-​dương, mà trong “vị” lại chia âm dương khác nhau, TÂN dẫn về khí phận mà tính tán, CAM là một vị về trung ương (Thổ), mà lại có cái năng lực tưới gội ra TỨ BÀNG, vì thế nên phàm vị “Tân và Cam” thời phát tán và thuộc Dương _. Vị KHỔ chủ về tiết trở xuống, mà lại kiêm có cái tính chất bốc ngược lên (vì là Hỏa) ; vị TOAN chủ về thâu giáng, mà lại là một thứ “Mộc vị” phát sinh về mùa Xuân … đều có cái năng lực THƯỢNG DŨNG (vọt lên) và HẠ TIẾT (tháo trụt trở xuống). Vì thế nên phàm vị “TOAN và KHỔ” thời “ dũng tiết” và thuộc Âm.
(2)_. MÃ-​THỊ nói : “Dùng vị toan, khổ mà đến thái quá thời Âm sẽ thắng, thời về Dương phận của con người không địch được với Âm hàn, do đó Dương sẽ mắc bịnh _ Dùng vị Tân, cam mà đến thái quá thời Dương sẽ thắng, dương thắng thời âm phận ở trong con người sẽ không địch nổi với dương-​nhiệt, do đó Âm sẽ mắc bịnh”.
(3)_. Khổ hóa hỏa, Toan hóa mộc ; nếu uống nhiều các vị “toan, khổ” thời sẽ gây nên sự “nhiệt-​hóa” của mộc với hỏa.
Tân hóa kim, Cam hóa thổ ; nếu uống nhiều vị “ tân, cam” , thời sẽ gây nên sự “hàn-​hóa” của âm-​thấp.
Phàm dùng thuốc, nếu lâu thời tăng khí, đó là cái lẽ thường vật hóa. Nếu để cho khí tăng lâu mãi, sẽ là cái nguyên nhân chết non.
(4)_. Dương hóa thành khí, âm gây nên hình. Hàn thời âm nhiều nên thương hình. Nhiệt thời dương thịnh nên thương khí. Khí vô hình nên đau, hình có hình nên thũng.
(5)_. Hình theo về khí, mà khí sinh ra hình….. do đó là sự tương hợp của âm dương và hình-​khí. Cho nên khí bị thương, thời lây đến hình ; hình bị thương thời lây đến khí.
Từ đây trở lên nói về : khí-​vị, âm-​dương, hàn-​nhiệt, …. Do thiên thắng mà sinh bịnh.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Phong thắng thời sinh ra ĐỘNG, nhiệt thắng thời sinh ra THŨNG ; táo thắng thời sinh ra CAN ; hàn thắng thời sinh ra PHÙ (thần khí phù-​việt) ; thấp thắng thời sinh ra NHU-​TIẾT (ẩm thấp, tiết tả) (1) .
(1)_. Ở đây trở xuống, bàn về 4 mùa, 5 hành của trời và 5 tạng, 5 khí ở con người, với bên ngoài cảm về lục dâm, bên trong làm thương về 5 chí… đều có âm dương, hàn nhiệt khác nhau. Tính của phong lay động nên “phong thắng thời động” ; nhiệt nhiều làm thương khí, nên nhiệt thắng thời thũng “sưng”. Táo làm thương đến tân-​dịch nên táo thắng thời sinh ra can (khô ráo, se) ; hàn làm thương đến dương, cho nên thần khí sẽ phù việt ra ngoài ; thấp thắng thời TỲ thổ bị thương nên làm ra chứng NHU TIẾT (tiết tả). phong với nhiệt là dương khí của trời, hàn-​táo-​thấp là âm khí của trời. Đó là sự thiên thắng gây nên bịnh của 4 mùa, 5 hành.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Trời có 4 mùa, 5 hành để thi hành sự THÂU, SINH, TÀNG, TRƯỞNG, và để sinh ra các khí hàn, thử, táo, thấp, phong (1) .
Người có 5 Tạng hóa ra 5 khí để sinh ra Hỉ, nộ, bi, ưu, khủng (2) .
Cho nên Hỉ với Nộ làm thương đến khí, Hàn với Thử làm thương đến hình (3) . Bạo nộ thời thương đến âm, bạo hỉ thời thương đến hình. Nếu khí dẫn ngược lên : mạch sẽ đầy tràn, ly thoát mất cái hình của Chân-​tạng (4) .
Hỉ-​nộ không hạn chế, hàn-​thử để quá độ, sinh mệnh sẽ không được bền (5) .
Cho nên “trùng âm” tất bịnh dương, “trùng dương” tất bịnh âm (6) .
Mùa Đông bị thương về hàn, tới mùa Xuân tất phát bịnh ÔN ; mùa Xuân bị thương về phong, tới mùa hạ tất sẽ phát bịnh SÔN-​TIẾT ; mùa hạ bị thương về thử, tới mùa Thu tất sẽ phát bịnh hơi NGƯỢC ; mùa Thu bị thương về thấp, tới mùa Đông sẽ mắc bịnh KHÁI-​THẤU (7) .
(1)-. Mười Can của trời, hóa sinh 5 hành của đất. 5 hành của đất hợp với 6 khí của trời. Cho nên ở đất là hành thủy, ở trời là khí hàn ; ở đất là hành hỏa ở trời là khí thử ; ở đất là hành kim, ở trời là khí táo ; ở đất là hành thổ, ở trời là khí thấp ; ở đất là hành mộc, ở trời là khí phong ….. đó là sự ứng tượng rất rõ rệt vậy.
(2)-. “hóa ra 5 khí” tức là hóa cái khí của 5 hành. Chí của Can là NỘ ; chí của Tâm là HỶ ; chí của Tỳ là BI ; chí của Phế là ƯU ; chí của Thận là KHỦNG (nghĩa chữ “chí” ở đây có ý như phát sinh ra….) đó là do 5 khí mà sinh ra 5 chí của ngũ-​tạng.
Câu này nói về : 5 tạng của người hóa sinh ra 5 khí và 5 chí, đều thuộc về âm-​dương.
(3)-. Hỷ nộ do bên trong phát ra, cho nên làm thương đến 2 khí âm dương ; cái tà ngoại-​dâm do bì mao mà lọt vào cơ lạc, tạng phủ, cho nên nói : “hàn-​thử thời thương hình”.
MÃ-​THỊ nói : “chỉ nói hỷ nộ mà ngoài ra như ưu, tư, khủng, có thể suy ra biết được. Chỉ nói hàn thử mà ngoài ra như táo, thấp, phong, có thể suy ra biết được.”
(4)-. Nhiều dương thời nhiều HỶ, nhiều âm thời nhiều NỘ. Bởi Hỷ thuộc dương, mà nộ thuộc âm. Vì vậy nên bạo nộ thời thương âm, bạo Hỷ thời thương dương. – cái khí âm dương một khi đã “quyết nghịch” dẫn lên thời cái khí của 5 tạng sẽ đầy tràn ở trong mạch, mà thoát ly mất cái hình của Chân-​tạng.
(5)-. Kinh nói: Kẻ trí-​giả đối với sự dưỡng sinh tất phải thuận theo cái khí của 4 mùa và thích hợp với khí hàn, thử, điều hòa sự hỷ nộ và tiết độ việc cư xử ; trái lại, nếu mọi việc cẩu thả quá độ, thời còn sống lâu sao được ?
(6)-. Về thời tiết thuộc âm, mà lại cảm phải khí hàn, như thế là “trùng âm”, tất sẽ sinh chứng “Dương-​nhiệt” ; về thời tiết thuộc Dương, mà lại cảm phải khí nhiệt, như thế là “trùng dương” tất sẽ sinh ra bịnh “Âm-​hàn”.
(7)-. Mùa Đông bị thương về khí Hàn, cái độc của khí hàn ẩn nấp trong cơ phu, tới mùa Xuân tất phát ra bịnh ÔN ; mùa Xuân bị thương về Phong, phong khí thông vào với Can, can-​tà hữu dư, tới phạm Tỳ-​thổ, dằng dai nên mùa Hạ thành chứng SÔN-​TIẾT ; mùa Hạ bị thương về khí Thử, thử-​hãn không tiết ra được, tới mùa Thu gặp phải gió mát (lương-​phong) hai bên xung đôt lẫn nhau thành ra chứng NGƯỢC “hàn nhiệt vãng lai” (lúc nóng lúc rét cứ lần hồi thay đổi). Mùa Thu bị thương về khí Thấp, thấp nung nấu biến thành nhiệt, nhiệt thuộc Hỏa, hỏa phạm lên Phế-​kim dằng dai đến mùa Đông hàn với nhiệt xung đột lẫn nhau gây nên bịnh KHÁI-​THẤU.
_ Xem những bịnh thuộc về 2 mùa Xuân, Hạ thời rõ được cái nghĩa “ trùng âm tất bịnh Dương” ; xem những bịnh thuộc về 2 mùa Thu, Đông thời rõ được cái nghĩa “ trùng dương tất bịnh Âm” như nói ở trên.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Hoàng-​Đế hỏi rằng :
-. Trẩm nghe các bậc Thánh-​nhân thời Thượng-​cổ hiểu rõ thân thể con người, về Tạng, Phủ thời phân biệt rõ ràng; về kinh mạch thời xét rõ đầu mối ; về “lục-​hợp” của mạch, nêu rõ sự hội-​thông của nó ; về các “khí-​huyệt” thời chỉ rõ từng nơi, và ấn định cái danh của nó. Về các “khê-​cốc” đều chỉ rõ cái chỗ bắt đầu của nó ; về bộ phận bì phu, có nghịch có tòng, đều có điều lý ; về 4 mùa âm dương, đều có kinh kỷ ….. Và ứng vào thân thể con người, đều có biểu lý liên lạc với nhau …. Có thật thế chăng ? (1)
(1)-. Đoạn này dẫn câu hỏi của Hoàng-​Đế làm tổng mạo cho mấy đoạn dưới đây :
--. LỤC-​HỢP (6 hợp) tức là sự tương hợp của 12 kinh mạch. Tỷ như :
- Túc Thái-​dương với Túc Thiếu-​âm là 1 hợp ;
- Túc Thiếu-​dương với Túc Quyết-​âm là 2 hợp ;
- Tuc Dương-​minh với Túc Thái-​âm là 3 hợp ;
- Thủ Thái-​dương với Thủ Thiếu-​âm là 4 hợp ;
- Thủ Thiếu-​dương với Thủ Quyết-​âm là 5 hợp ;
- Thủ Dương-​minh với Thủ Thái-​âm là 6 hợp …. Nó đều theo chính kinh của nó để gi­ao thông liên lạc lẫn nhau.
--. KHÍ-​HUYẾT tức là cái nơi kinh khí qui tụ ở đó. Trong thân thể con người có 365 huyệt, để ứng với 365 ngày trong một năm.
--. Những chỗ đại hội của nhục (thịt) gọi là CỐC ; những chỗ tiểu hội của nhục gọi là KHÊ. Các nơi đó đều có cái chỗ bắt đầu sinh ra nó. Tỉ như gân, ta thấy là gân, nhưng phải biết từ đâu sinh ra gân….
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Kỳ-​Bá thưa rằng :
-- Đông phương sinh ra PHONG (gió), phong sinh MỘC, mộc sinh TOAN, toan sinh CAN, can sinh CÂN (gân), cân sinh TÂM ; Can chủ về MẮT.
Theo lẽ đó ở trời gọi là “HUYỀN”, ở người gọi là “ĐẠO”, ở đất thời là “HÓA”. Hóa sinh 5 vị, Đạo sinh ra TRÍ, Huyền sinh ra THẦN.
Thần ở trời tức là khí Phong, ở đất tức là hành Mộc, ở thân thể con người tức là GÂN, ở Tạng phủ con người tức là CAN.
Ở sắc là màu XANH, ở âm là âm GIÁC, ở tiếng là tiếng HÔ (thở ra, reo hò), ở sự biến động là ÁC (nắm tay lại, hình dung sự co gân), ở khiếu là MẮT, ở vị là TOAN, ở chí là NỘ.
NỘ giận làm thương Can, BI sẽ thắng nộ. Phong làm thương cân, táo sẽ thắng phong. Toan làm thương cân, tân sẽ thắng toan (1) .
(1)-. Từ đoạn này trở xuống với 4 đoạn nữa, là lời của Kỳ-​Bá thưa lại, đem những cái liên lạc của 5 Tạng với “TAM-​TÀI” (Trời-​Đất-​Người) phân tách rõ ràng. Để chứng minh thực người xưa dở dĩ được như lời của ĐẾ hỏi trên, chẳng qua chỉ hiểu thấu được hết Tam-​tài mà thôi.
-- Đông phương chủ về mùa Xuân, cái tính chất của Dương-​khí là bốc lên, nên mới sinh ra phong ; phong cổ động thởi loài cây tươi tốt, nên phong sinh Mộc. Cái tính của mộc là “toan”, nên mộc sinh Toan.
Trong thân con người : CAN thuộc mộc, mộc tính toan, nên nói “toan sinh Can”.
Phàm CÂN, đều thuộc về can, cho nên nói “CAN chủ về CÂN”.
Mộc chủ về sinh HỎA, nên nói : “CÂN sinh TÂM”.
MẮT là khiếu của CAN, nên nói : “can chủ về Mắt”.
Giờ đem hợp cả Trời-​Đất-​Người lại mà xét, thời chẳng qua là chỉ cùng chung có một lý : lý đó ở trời gọi là HUYỀN (hình dung sự xa xôi, bí mật), ở người gọi là ĐẠO (Đạo là một cái lý, ai ai cũng phải có, phải theo). Ở đất gọi là HÓA (tức là hóa sinh muôn vật).
Bởi đất có sự Hóa, nên mới chia ra mọi vật, và sinh ra 5 vị.
Bởi người có biết Đạo, nên đạo mới tỏ rõ mà minh trí mới sinh ra.
Bởi trời có sự Huyền, nên mới có cái hành động khôn ngoan, khéo léo, biến chuyển như thần…. do đó ta có thể biết được “TAM TÀI” cũng chỉ là một lý.
Nhân đó lại suy rộng ra, ở trong 5 khí của trời đã là phong, thời ở 5 Hành của đất sẽ là Mộc, ở 5 thể của người sẽ là Cân và ở 5 Tạng sẽ là CAN…. Suy mãi ra đến 5 sắc là XANH, 5 âm là GIÁC, 5 tiếng là HÔ, 5 biến là ÁC, 9 khiếu là MẮT, 5 vị là TOAN, 5 chí là NỘ…. cái danh của nó tuy khác nhau, mà cái lý thời vẫn chỉ cớ một, tức là đều thuộc về MỘC mà thôi.
Tuy nhiên, nếu ở bản Tạng mà có sự thái quá, thời Tạng sẽ bị thương. Khi đã bị thương, thời chỉ cócái nào mà “MỘC TẠNG” không thắng được nó, nó sẽ chế lại được. Cho nên ở “chí là NỘ” nếu nộ thái quá thời thương CAN.. Chỉ có Phế-​kim chủ về BI là có thể thắng được NỘ (kim khắc mộc).
Ở vị là Toan, toan thái quá thời thương CÂN, chỉ có cái vị TÂN thuộc Tây-​phương là có thể thắng được toan… đó đều là cái lý “kim khắc mộc” , nó tương chế nhau như vậy.
Ở trời là phong, phong-​khí thông vào CAN, thời sẽ làm thương đến Cân. Chỉ có cái khí Táo-​kim thuộc phương Tây là có thể thắng được Phong ( vẫn là Kim khắc Mộc).
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Nam phương sinh Nhiệt (nóng), nhiệt sinh HỎA (1) , Hỏa sinh KHỔ, khổ sinh TÂM (2) . Tâm sinh HUYẾT (3) huyết sinh TỲ (4) . tâm chủ về LƯỠI (5) .
Theo lẽ đó, ở trời là khí NHIỆT, ở đất là hành HỎA, ở thể là MẠCH, ở tạng là TÂM (6) .
Ở sắc là XÍCH (đỏ), ở âm là âm CHỦY, ở tiếng là tiếng CƯỜI, ở sự biến động là ƯU (lo) (7) , ở khiếu là LƯỠI, ở vị là KHỔ, ở chí là HỶ.
Hỷ quá thời thương Tâm, KHỦNG sẽ thắng HỶ (khủng là Thận-​chí, và là Thủy thắng Hỏa). Nhiệt quá thởi thương khí, hàn sẽ thắng nhiệt. KHỔ làm thương khí (khổ là hỏa-​vị, nên cũng làm thương khí). HÀM sẽ thắng KHỔ (Thủy khắc Hỏa).
(1)-. Nam phương chủ về thời tiết mùa Hạ, nên sinh NHIỆT.
(2)-. KHỔ là vị của Tâm. Vị thuộc âm,Tạng cũng thuộc âm, nên vị mới sinh Tạng (TÂM).
(3)-. HUYẾT là một chất “lỏng” phát sinh tự trung-​tiêu, phụng tâm-​thần hóa ra đỏ. Nên huyết tức là THẦN-​KHÍ.
(4)-. Tức Hỏa sinh Thổ.
(5)-. Tâm-​khí thông lên lưỡi. Tâm hòa thời biết được 5 vị.
(6)-. Phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa là âm-​dương của Trời. Mộc, hỏa, thổ, kim, thủy, là âm-​dương của Đất. Người có 5 tạng, hóa ra 5 khí để sinh ra HỈ-​NỘ-​BI-​ƯU-​KHỦNG đó là âm-​dương của người. Tại trời gây nên TƯỢNG, tại đất gây nên HÌNH . Về con người thởi hợp cả Trời-​Đất lại làm một. Ở đây trước nói thế, rồi sau mới nói đến Tạng, vì con người hấp thụ cái khí của trời đất trước rồi mới đến trong vậy.
(7)-. Các Tạng đều có “DU” , duy Tâm không có “du” cho nên sự biến động phát sinh bởi “CHÍ”. Tâm-​chí dồn vào Phế (Hỏa khắc Kim) nên thành ƯU.
Dịch giả án : về thiên này bàn đến những “SỞ THƯƠNG”.(Cái làm thương) có điể=====m khác nhau, như :
-- Về Đông-​phương nói : “Phong làm thương Cân, toan làm thương Cân….
-- về Trung-​ương nói : “Thấp làm thương nhục, Cam thương nhục…” đó là một “TỰ THƯƠNG”(tức là sự bản tạng làm thương đến bản tạng).
-- về Nam-​phương nói : “Nhiệt thương Khí, Khổ thương khí…”
-- về Bắc-​phương nói : “Hàn thương Huyết, Hàm thương huyết….” đó là làm thương đến cái mình thắng.
-- về Tây-​phương nói : “ Nhiệt thương Bì-​mao….” Thế là bị cái khí thắng mà thương mình ; nói : “TÂM thương bì mao…” thế chính là mình tự làm thương mình,
Duyệt giả nên nhận kỹ những điểm đó.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Trung-​ương sinh THẤP (1) , thấp sinh THỔ (2) , thổ sinh CAM, cam sinh TỲ (3) , tỳ sinh NHỤC, nhục sinh PHẾ (4) . Tỳ chủ về MIỆNG.
Theo lẽ đó, ở trời là khí Thấp, ở đất là hành Thổ, ở thể là Nhục, ở tạng làTỳ.
Ở sắc là sắc VÀNG, ở âm là âm CUNG, ở tiếng là tiếng HÁT (5) . Ở sự biến động là UẾ (6). ở khiếu là MIỆNG, ở vị là CAM, ở chí là TƯ (nghĩ ngợi).
Tư quá thởi thương TỲ, Nộ sẽ thắng Tư, thấp quá thời thương Nhục, phong sẽ thắng thấp, Cam quá thời thương nhục (vị làm thương hình) Toan sẽ thắng Cam (7) .
(1)-. Trung ương chủ về Thổ, để thấm nhuần khắp cả chung quanh nên sinh Thấp.
(2)-. ở trời là khí, ở đất thành hình… tức là do KHÍ sinh ra HÌNH.
(3)-. Đất dùng 5 vị để nuôi người. vị Cam vào Tỳ trước cho nên chủ về sinh TỲ.
(4)-. Tức là THỔ sinh KIM.
(5)-. Chí của Tỳ là TƯ (nghĩ ngợi). khi đã nghĩ ra được điều gì thì phát tiếng Hát, tức là sự vui vẻ.
(6)-. UẾ là “ợ”, cũng là “nấc”. Hơi ngược lên trên khoảng Phế-​vị thành ra nấc – Phía trên Vị phía dưới Phế, là bộ vị của TỲ. nên Tỳ-​khí biến động thời thành UẾ.
(7)-. Những sự “thắng” trên đây đều do sự chế khắc mà sinh ra.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Tây-​phương sinh TÁO (1), táo sinh KIM (nhân khí mà sinh hình), kim sinh TÂN (nhân hình mà sinh vị), tân sinh PHẾ (nhân vị mà sinh Tạng), phế sinh BÌ-​MAO (nhân tạng mà chủ về hình), bì mao sinh THẬN (2) . Phế chủ về MŨI.
Theo lẽ đó, ở trời là khí Táo, ở đất là hành Kim, ở thân thể là Bì-​mao, ở tạng là Phế.
Ở sắc là sắc TRẮNG, ở âm là âm THƯƠNG, ở tiếng là tiếng KHỐC (3) , ở sự biến động là KHÁI (ho), ở khiếu là MŨI, ở vị là TÂN, ở chí là ƯU (lo).
Ưu làm thương Phế, Hỷ sẽ thắng Ưu (hỏa khắc kim) ; Nhiệt làm thương bì mao, Hàn sẽ thắng Nhiệt, Tân làm thương bì mao (4) , Khổ sẽ thắng Tân.
(1)-. Tây-​phương chủ về thời tiết của THU-​KIM, nên khí TÁO.
(2)-. Phế-​kim chủ về bì mao, nhân kim-​khí sinh THẬN (tức kim sinh thủy).
(3)-. Chí của Phế là BI (thương), vì bi nên sinh ra KHÓC.
(4)-. Khí chủ về bì-​mao, Tân làm tán khí, nên thương bì mao.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Bắc-​phương sinh HÀN (bắc thuộc Thủy nên sinh Hàn), hàn sinh THỦY (1) . thủy sinh HÀM (mặn, vị của Thủy). hàm sinh THẬN, thận sinh CỐT TỦY, tủy sinh CAN (2) . Thận chủ về TAI (Thận-​khí thông lên Tai).
Theo lẽ đó ở trời là khí Hàn, ở đất là hành Thủy, ở thân thể là Xương, ở Tạng là Thận (3) .
Ở sắc là sắc ĐEN, ở âm là âm VŨ, ở tiếng là tiếng THỞ DÀI (4) , ở sự biến động là RUN-​RẨY, ở khiếu là TAI, ở vị là HÀM, ở chí là KHỦNG.
Khủng quá thương Thận, TƯ sẽ thắng Khủng. Hàn quá làm thương Huyết (5),Táo sẽ thắng Hàn (6) ; Hàm quá làm thương Huyết, CAM sẽ thắng HÀM (tức Thổ khắc Thủy).
(1)-. Tức là HÌNH, chủ khí, mà KHÍ lại sinh HÌNH.
(2)-. Tinh-​thủy của Thận lại sinh Can-​mộc. Thế tức là : 5 tạng cũng sinh ra nhau nhưng đều phải do 5 khí của trời và 5 vị của đất rồi mới cùng sinh vậy.
(3)-. Nói về : 5 phương sinh ra 5 khí, 5 khí sinh ra 5 hành, 5 hành sinh ra 5 vị, 5 vị sinh ra 5 thể và 5 tạng… Đó tức là con người sinh ra bởi gốc ở HÌNH. Khí của trời đất vậy.
Đến như nói : ở trời là khí Hàn, ở đất là hành Thủy, ở tủy là Cốt, ở tạng là Thận v,v,,,, đó là nói : trời đất sở dĩ thành tượng thành hình được, đều gốc ở sự biến hóa bất trắc của âm-​dương vậy.
(4)-. THỞ DÀI: nguyên chữ Hán là “THÂN” lại có nghĩa là tiếng “RÊN”. Thận-​khí ở bộ phận dưới, nên phải lên tiếng thở dài mới tiết lên được.
(5)-. Hàn quá thời Huyết bị đọng lại, nên nói : “thương huyết” – Hoặc có người hỏi: “ phong thương cân, thấp thương nhục” đó là bản khí làm thương đến bản thể. Ở Tâm thời nói : “nhiệt thương khí”. Ở Thận thời nói: “Hàn thương huyết” là cớ sao ?
Xin đáp : khí là Dương, huyết là Âm, Hỏa là dương, thủy là âm. Tâm chủ hỏa mà sinh ra Nhiệt, Thận chủ thủy mà sinh ra Hàn… vì thế nên “nhiệt thương khí và hàn thương huyết” là sự đồng khí tương cảm vậy.
Như vậy, về đoạn dưới đây nói : âm-​dương ấy là Nam-​Nữ của khí-​huyết, Thủy-​hỏa là chứng triệu của âm-​dương. Tâm-​Thận ấy là chủ tể của thủy-​hỏa, âm-​dương v,v… cho nên lời nói trên đây tuy với Tạng khác có hơi không giống, nhưng cũng chỉ là cái ý “BẢN KHÍ TỰ THƯƠNG” mà thôi.
(6)-. Táo chủ khí nhiệt của mùa Thu, nên thắng được Hàn.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Cho nên nói rằng : Trời-​Đất là một bộ vị trên và dưới của muôn vật (1) . Âm với dương, đối với người là HUYẾT-​KHÍ của Nam-​Nữ (2). Tả với hữu là đường lối của âm-​dương (3) . thủy với hỏa là chứng triệu của âm-​dương (4) , âm với dương là trước sau của muôn vật.
Nên chú ý rằng : âm ở bên trong, nhờ có sự giữ gìn của bên ngoài. Dương ở bên ngoài nhờ sự sai khiến của âm ở bên trong (5) .
(1)-. Trời che ở trên, đất chở ở dưới. Trời với đất đã đứng yên bộ vị, muôn vật đã hóa sinh ở chỗ đó.
(2)-. TRƯƠNG-​ẨN-​AM nói: “cái lý âm-​dương ở người đời là Nam với Nữ, ở thể thời là Khí với Huyết”.
MÃ-​NGUYÊN-​ĐÀI nói : “Muôn vật sinh ra bởi Dương, thành được bởi Âm. Nói về tấm thân con người thời Huyết là âm, khí là dương. Cho nên con Trai thuộc Dương mà không chuyên có khí, lại có cả huyết, đó là trong dương có âm. Con gái thuộc âm mà không chuyên có huyết, lại có cả khí, đó là trong âm có dương.
Vậy thời âm dương ở trong người tức là Nam Nữ có khí có huyết đó.
(3)-. Ở trong khoảng trời đất và 6 cỏi : Đông-​nam là tả ; Tây-​bắc là hữu. Hai khí âm dương với trên dưới 4 bên, ngày đêm tuần hoàn… Mà cái khí âm dương ở con người cũng cùng với cái khí của trời đất ngày đêm tuần hoàn, Cho nên nói : “tả hữu là đường lối của âm dương”.
(4)-. Thiên theo số 1 sinh ra hành THỦY ; Địa theo số 2 sinh ra hành HỎA, Hỏa là dương, Thủy là âm. Thủy-​hỏa là một vật hữu hình, nên làm chứng triệu của âm-​dương.
(5)-. Âm tỉnh ở bên trong, Dương động ở bên ngoài. Do sự động và tỉnh của âm dương mà hóa sinh ra muôn vật.
Tiết trên nói về cái khí âm dương của trời đất vận dụng khắp trên dưới 4 bên. Tiết này nói về cái khí âm dương lại có cái trách nhiệm, trong ngoài khác nhau. Nói về trời đất, thời trời bao bọc ở bên ngoài đất Nói về người, thời dương lại là một hào-​lũy hộ vệ cho âm.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Hoàng-​Đế hỏi :
-- Nên bắt chước ở âm dương như thế nào ? (1)
Kỳ-​Bá thưa rằng :
-- Dương thắng thời mình nóng. Tấu lý vít lấp, thở mạnh và khó cúi hoặc ngữa ; hãn không ra mà nhiệt răng se ; do đó thành PHIỀN-​OAN (bực dọc, nóng nảy) bụng đầy, thuộc chứng chết, chỉ qua được mùa Đông, không qua được mùa Hạ (2) – Âm thắng thời mình lạnh, hãn ra, mình thường mát, thường run và rét. Rét thời quyết, quyết thời bụng đầy, thuộc chứng chết, chỉ qua được mùa Hạ, không qua được mùa Đông. Đó là sự biến của âm-​dương “thiên thắng” và là chứng trạng phát hiện vậy (3) .
(1)-. Bắt chước âm dương để thi hành việc trị liệu.
-- CAO-​SĨ-​TÔN nói : xét những lời Kỳ-​Bá giải đáp ở dưới như “ Dương thắng thời thân nhiệt, âm thắng thời thân lạnh … đó là cái hại gây nên bởi âm dương thiên thắng.”
Như nói : “Hay biết được cái nghĩa thất tổn, bát ích…” đó là nói về biết điều hòa cái khí âm dương ở trong thân mình thời tà không thể xâm phạm gây nên tật bịnh.
Như nói : “ Con người tai mắt bên hữu không sáng tỏ bằng bên tả ; tay chân bên tả không mạnh bằng bên hữu…” đó là bắt chước sự thịnh suy của trời đất và 4 phương.
Như nói : ‘Người hiền, bên trên bắt chước trời để nuôi đầu, bên dưới bắt chước đất để nuôi chân, khoảng giữa bắt chước việc người để nuôi 5 Tạng…” đó là bắt chước trời đất để nuôi người.
Như nói : “khí trời thông với đất, khí đất thông vào cuống họng ; phong khí thông vào Can, lôi khí thông vào Tâm….” Đó là cái khí của trời đất ứng vào người.
Như nói : “bạo khí hình tượng với LÔI (sấm), nghịch khí hình tượng với Dương….” Đó là khí của con người ứng tượng với trời đất.
Như nói : “khéo dùng châm ấy theo âm để dẫn dương, theo dương dẫn âm…” đó là bắt chước cái lý của âm dương để làm cái phương pháp dùng châm.
Như nói : “ khéo chẩn ấy, xét sắc để nghe mạch, biết phân biệt âm dương…” đó là bắt chước cái lý âm dương để thi hành việc liệu trị.
Tóm lại toàn thể thiên này, bàn về âm dương của trời đất và cái khí của 5 phương, 5 hành, để phối hợp với thân hình, tạng-​phủ của con người… Đến cả việc chẩn trị điều dưỡng cũng đều bắt chước ở âm dương, nên mới đặt tên thiên này là “ ÂM DƯƠNG ỨNG TƯỢNG ĐẠI LUẬN ”.
(2)-. Dương thắng là do khí hỏa nhiệt dùng sự nên mình nóng. Nhiệt ở biểu phận nên tấu lý bị vít lấp, nhiệt ở lý nên hơi thở to. Dương thắng ở PHÚC-​BỘ nên cứ phải cúi xuống. dương thắng ở BỐI-​BỘ nên cứ phải ngửa lên. Dương thắng ở TOÀN THÂN nên hãn không ra mà mình nóng. Thận chủ về TINH-​DỊCH, răng se tức là tân-​dịch đã khô kiệt. Tâm chủ về Huyết, nếu PHIỀN-​OAN tức là huyết bị khô ráo. PHÚC-​MÃN tức là sinh khí ở Trung-​tiêu bị khuyết. Đó là cái tử chứng thuộc về “Dương nhiệt thiên thắng” dù có dai dẳng được qua mùa Đông, cũng khó lòng “hãnh miễn” được ở mùa Hạ.
Đoạn này nói về : âm dương ở con người lại phối hợp với âm dương về 4 mùa của trời đất để tạo thành sự sống chết.
(3)-. Âm thắng thời dương hư, nên hãn ra. Âm thắng ở bộ phận BIỂU, nên mình thường mát ; nếu ở LÝ thời hay run và rét. Tứ chi là gốc của chư dương. Biểu lý đều hàn thời tứ-​chi quyết lãnh ; tứ chi đã quyết lãnh thời Phúc-​bộ sẽ hư mà đầy. Đó là tử chứng thuộc về “ Âm hàn thiên thắng”. Nếu nhờ được cái khí dương nhiệt của mùa Hạ còn có thể cứu được cái nạn Âm-​hàn. Đó là do sự biến của âm dương mà gây nên tật bịnh.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Hoàng-​Đế hỏi rằng :
-- Muốn điều dưỡng hai khí ấy, làm thế nào ?
Kỳ-​Bá thưa rằng :
-- Nếu biết được cái lẽ “Thất tổn, Bát ích” thời hai khí ấy có thể điều hòa. Nếu không biết sẽ là cái cơ tảo suy (suy yếu sớm) vậy(1).
Con người năm 40 tuổi, âm khí đã tới phần nửa, sự khởi cư đã suy rồi (2) .
Tới năm 50 tuổi, thân thể nặng nề, tai mắt không con sáng tỏ nữa (3) .
Tới năm 60 tuổi, thời âm-​nuy, khí đã rất suy, 9 khiếu không thông lợi, dưới hư trên thực, nước mũi nước mắt thường chảy ra (4) .
Cho nên nói : biết thời khỏe mạnh, không biết thời chóng già (5) .
THẦN và KHÍ vốn “cùng” sinh ra ở Âm-​tinh, mà về sau cái danh nó “khác” đấy thôi (vì chia ra TINH-​KHÍ-​THẦN, 3 danh từ).
Người trí xét rõ từ chỗ “đồng”(cùng), còn kẻ ngu chỉ biết xét ở chỗ “dị” (khác) ; kẻ ngu thường bất túc, người trí thường hữu dư (6) .
Vì hữu dư nên tai mắt sáng tỏ, thân thể khỏe mạnh, đã đến tuổi lão mà vẫn được như tráng ; đã tráng mà lại càng đầy đủ thêm (7) .
Vì thế nên bậc Thánh-​nhân làm cái việc “vô-​vi”, vui cái yên “điềm đạm”, thuận dục khoái chí ở trong phạm vi “hư-​vô”. Cho nên thọ mệnh vô cùng, sống chung trời đất…. đó là phương pháp trị thân của bậc Thánh-​nhân vậy (8) .
(1)-. “THẤT TỔN, BÁT ÍCH” : con gái lấy số “thất” (7) để tính ; con trai lấy số “bát” (8) để tính (như nói con gái hai-​bảy thời có THIÊN QUÍ, con trai hai-​tám thời có thiên-​quí v,v, …..)
Vậy về số “THẤT” không nên để cho “tổn” (giảm bớt) ; về số “BÁT” không nên để cho “ích” (thêm lên). Nói rõ hơn, tức là chỉ về cái nghĩa “Dương thường hữu dư, Âm thường bất túc” vậy.
-- Nhưng dương khí vốn sinh ra tự Âm-​tinh. Đã biết âm tinh thường bất túc, mà đừng để cho nó lại bị khuy-​tổn nữa, thời 2 khí đó sẽ quân bình nhau. Nếu không biết cái lẽ tương sinh của âm dương, theo phương pháp điều dưỡng, thời tuổi chưa đên nữa trăm mà đã suy rồi.
(2)-. Con trai lấy số “bát” làm giới hạn, cho nên đến 40 tuổi mà âm-​khí đã tới phần nửa (âm-​khí tức là Thận-​khí, tinh-​khí). Âm đã hư nên khởi cư mõi mệt.
(3)-. Kinh nói : “Thận hư, Can hư, Tỳ hư đều làm cho con người thân thể nặng nề và “phiền oan” -- Lại nói : “Tân dịch bị thoát (hết đi) khiến cho gân thịt co duỗi không dễ dàng.
-- Tuổi đến 50 thời tinh-​dịch, huyết-​dịch đều hư, nên thân thể nặng nề.
-- Tinh khí hư không thể dẫn lên bộ phận trên, nên tai mắt không sáng tỏ.
(4)-. Con người tới tuổi 60, đã quá thởi kỳ bảy-​tám (56) : thiên-​quí kiệt, Thận-​khí đại suy, vi thế nên Âm suy, (sinh-​thực-​khí không cử động). 9 khiếu là nơi hơi nước do đó mà tiết ra ; tinh-​thủy kiệt mà tinh-​khí suy, vì thế nên 9 khiếu không thông lợi. Tinh kiệt bộ phận dưới, nước ràn lên bộ phận trên, nên nước mũi nước mắt chảy ra.
-- VƯƠNG-​TỬ-​PHƯƠNG nói : “ trên nói điều dưỡng 2 khí…” chú trọng về THẤT TỔN nên nói : “âm-​khí đến phần nửa…thân thể nặng nề….Âm nuy …v.v….” – Con người về sự khởi cư động tác thuộc về Dương, tai mắt 9 khiếu thuộc về dương… giờ nói : “khởi cư suy…tai mắt không sáng tỏ…9 khiếu không thông lợi .v.v…” đó là do âm hư mà làm lây đến dương vậy.
(5)-. “biết” là biết cái lẽ “thất tổn, bát ích” ở trên, để cố gìn giữ lấy tinh, thời âm dương đều thịnh, mà gân xương khỏe mạnh. Nếu không biết cái nguồn gốc của âm dương mà để lòng “dục” kiệt mất tinh và hao tán mất chân nguyên thời tránh sao khỏi suy yếu.
(6)-. Người khôn xét rõ âm dương “cùng” sinh xuất bởi “Thiên chân” không làm quá sức. dương đầy đủ mà âm bền chặt. Tinh thần giữ vững ở bên trong, thời âm thịnh mà khí bên ngoài cũng mạnh. Biết âm dương cùng “sinh” và “cố” (bền) thời tinh sẽ được hữu dư (có thừa). Kẻ ngu chỉ biết cái “danh” nó khác, như “phiền lao thời dương khí phát lộ ra bên ngoài…” mà không biết là tinh cũng sẽ tuyệt ở bên trong ; chỉ biết “Làm trái ngược thời thương Thận, do đó cái khí Xuân-​dương cũng không nhờ đâu mà sinh ra được …” Nhưng không biết : “dương vốn để giữ bền cho âm, mà âm thời là gốc của dương, tinh-​khí đồng thời lâm vào tình trạng bất túc…”
(7)-. “hữu dư” thời tai mắt sáng tỏ, tinh huyết đủ nên tinh thần cường kiện, tinh thần bền vững… nên tới tuổi lão mà vẫn tráng.
(8)-. Làm việc theo cái lẽ “vô-​vi” (có việc mà coi như không có việc) thời bên ngoài không nhọc hình, bên trong không nhọc nghĩ. Điềm đạm, hư vô thời tinh thần bền vững ở bên trong, chân khí cũng thuận theo, nên thọ mệnh vô cùng….
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Trời “bất túc” về phương Tây-​Bắc, Tây-​Bắc thuộc âm, do đó con người tai mắt bên hữu không sáng bằng bên tả. Đất “bất mãn” về phương Đông-​Nam, Đông-​Nam thuộc Dương, do đó con người tay chân bên tả không mạnh bằng tay chân bên hữu (1) .
Hoàng-​Đế hỏi :
-- Vì cớ sao ?
Kỳ-​Bá thưa rằng :
-- Phương Đông thuộc Dương. Vì là dương, nên tinh khí dồn lên trên thời trên sáng mà dưới hư, cho nên khiến tai mắt sáng tỏ mà tay chân không mạnh.
Phương Tây thuộc Âm. Vì là âm, nên tinh khí dồn xuống dưới, dồn ở dưới thời dưới thịnh trên hư, cho nên khiến tai mắt không sáng tỏ mà tay chân được mạnh (2) .
Cho nên đều là cảm phải tà khí, mà về bộ phận trên thời bên hữu nặng hơn, về bộ phận dưới thời bên tả nặng hơn. Đó chình vì Thiên-​địa âm-​dương không thể toàn vẹn được, nên tà khó cũng do chỗ thiếu hụt ấy để xâm lấn (3)
(1)-. Đoạn này nói : nhờ âm dương tinh khí vận hành nên mới thi triển được cái công năng sinh-​trưởng-​thâu-​tàng để hóa sinh muôn vật. Ở con người cũng nên phối hợp với trời đất để nuôi đầu và chân ; đừng để cho tà khí có thể xâm chiếm làm nơi ký túc.
-- Trên nói : “trời bât túc ở Tây-​bắc” là nói cái âm ở trong dương bất túc. Tây-​bắc thuộc âm, mà ở con người tai mắt bên hữu không sáng bằng bên tả -- tả là dương mà hữu là âm. Vì âm bất túc ở trên nên như vậy.
-- Trên nói : “Đất bất mãn Đông-​nam” là nói cái dương ở trong âm bất túc. Đông nam thuộc dương, mà ở con người tay chân bên tả không mạnh bằng bên hữu. vì hữu là âm mà tả là dương. Vì dương bất túc ở bộ phận dưới nên như vậy.
(2)-. Trời có tinh đất có hình, đông phương thuộc dương, tinh khí bốc lên mà dồn cả lên bộ phận trên ; vì dồn cả lên bộ phận trên nên trên thịnh dưới hư, khiến cho tai mắt sáng tỏ mà tay chân không mạnh. Tây-​phương thuộc âm, tinh khí giáng xuống mà dồn cả tới bộ phận dưới ; vì dồn cả tới bộ phận dưới nên dưới thịnh trên hư, khiến cho tai mắt không sáng tỏ mà tay chân lại mạnh.
(3)-. Đây đem thân hình con người để nói, ở về bộ phận trên thời bên hữu hư, về bộ phận dưới thời bên tả hư, Xem đó thời biết thiên-​địa âm dương vốn không thể toàn vẹn, mà ở con người cũng có sự bất túc về 2 bên tả hữu…. xem đó thời biết hình thể con người, không một thứ gì là không phối hợp với trời đất. Vì lẽ đó, nên cần phải bắt chước âm dương.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Cho nên trời có tinh, đất có hình. Trời có 8 cõi, đất có 5 hành, vì thế mới có thể làm được cha mẹ cả muôn vật (tức là sự sinh hóa ra muôn vật đều phải gốc ở trời đất).
Thanh dương bốc lên trời, trọc âm theo xuống đất.
Nhân có sự động tĩnh, làm giềng mối cho sự “THẦN-​MINH” nên mới phát triển được cái công năng sinh-​trưởng-​thâu-​tàng, hết rồi lại có (1) .
Chỉ bậc người Hiền, về bậc trên, biết bắt chước trời để nuôi đầu, về bộ phận dưới biết bắt chước đất để nuôi chân, về bộ phận giữa biết lựa theo nhân-​sự để nuôi 5 Tạng (2) .
Thiên khí thông vào PHẾ, địa khí thông vào ÁCH (thực quản). Phong khí thông vào CAN. Lôi khí thông vào TÂM. Cốc khí thông vào TỲ. Vũ khí thông vào THẬN (3) .
Sáu kinh coi như sông, Trường-​vị coi như biển, 9 khiếu là nơi tiết ra của hơi nước (4) .
Lấy âm dương của trời đất làm âm dương của con người.
DƯƠNG HÃN, mượn tiếng”vũ” của trời đất để đặt tên (5)
DƯƠNG KHÍ, mượn tiếng “lôi” của trời đất để đặt tên (6)
BẠO KHÍ, tượng với LÔI ; NGHỊCH KHÍ tượng với dương (7)
Vậy về phương pháp trị liệu, nếu không bắt chước cái lý âm dương của trời đất, sẽ khó thoát tai nạn.
(1)-. THẦN-​MINH , tức là sự biến hóa bất trắc của âm dương.
(2)-. Bên trên phối hợp với trời để nuôi sự sáng tỏ của tai mắt, bên dưới phối hợp với đất để nuôi sự “bất túc” từ YÊU (ngang chỗ thắt lưng) trở xuống. Dè dặt 5 vị, thích thuận 5 chí, để nuôi sự thái hòa cho 5 Tạng… vậy dù có tặc tà, cũng không thể làm hại được.
(3)-. Phế-​tạng thuộc về CÀN-​KIM, bộ vị ở rất cao, mà làm chủ tể cả các khí ở toàn thân, nên cùng thông với Thiên-​khí.
-- Đây lại nói “đại loại” : chẳng những cái khiếu ở trên đầu là thông với trời, từ “yêu” trở xuống là thông với đất, mà từ 5 tạng, 6 phủ, 9 khiếu, 6 kinh v,v… đều cùng thông với khí của trời đất. Chỉ có bậc người Hiền là bắt chước được cái lẽ âm dương của trời đất để trị thân, nên tật bịnh không sinh ra được.
-- ÁCH (thực quản) tức là cửa của Vị phủ.
-- Phong sinh Mộc, mộc sinh Can,đó là do cái khí của trong và ngoài cùng gi­ao với nhau.
-- LÔI (sấm) là do Hỏa phát thành tiếng. Tâm là Hỏa-​tạng, khí cùng cảm thiệu, nên cùng thông với Tâm.
-- CỐC KHÍ tức là thực phẩm do loài ngũ-​cốc, Tỳ là Thổ-​tạng chủ về chuyển vận, tiêu hóa, nên thông với Tỳ
-- THẬN là Thủy-​tạng. VŨ-​KHÍ (hơi mưa) tức là cái khí của Hàn-​thủy, nên cùng thông.
(4)-. Tinh khí thông lên khiếu trên, Trọc khí thông xuống khiếu dưới.
(5)-. Hãn sinh ra bởi âm-​dịch, nhưng nhờ ở dương khí làm cho nó tuyên-​tiết ra, nên mới gọi là DƯƠNG-​HÃN.
(6)-. Dương-​khí phát sinh gốc bởi lý âm. Sở dĩ gọi là “tật phong” (gió mạnh, nhanh) vì dương khí vận hành khắp thân thể không một chút chậm chạp.
(7)-. BẠO KHÍ như lôi hỏa bốc cháy ; NGHỊCH KHÍ như dương-​nhiệt tràn lan…. .
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Cho nên khi tà-​phong nó đến, gấp hơn gió mưa (1) . Người thiện trị (chữa bịnh giỏi) chữa ngay từ lúc tà còn ở bì-​mao (2) . Bậc thứ nữa : chữa khi tà vào tới cơ phu (3) ; bậc thứ nữa : chữa khi tà vào tới cân mạch (4) ; bậc thứ nữa : chữa khi tà vào tới 6 Phủ (5) ; lại bậc thứ nữa : chữa khi tà vào tới 5 tạng. để tà vào tới 5 tạng thời nửa chết nửa sống (6) .
Nếu cảm nhiễm phải tà khí của Trời, thời sẽ hại tới 5 tạng ; nếu cảm nhiễm về sự nóng hay lạnh của loài thủy-​cốc (thức ăn, do sự ăn uống) thời sẽ hại tới 6 phủ ; nếu cảm nhiễm phải thấp khí của Đất, thời sẽ hại tới BÌ-​NHỤC-​CÂN-​MẠCH (7) .
(1)-. TÀ-​PHONG tức là gió độc. Phàm gió độc phạm vào người trước từ Bì-​mao, rồi tới Cơ-​nhục và kinh-​mạch, rồi lại do kinh mạch mà vào Tạng-​phủ … sự tràn lan của nó rất chóng, nên nói : “nhanh hơn gió mưa”.
-- Ở đây chỉ nói một “tà phong”, mà không nói đến các bịnh khác, vì “phong” đứng đầu trăm bịnh và khai phát “bì-​tấu” rất chóng.
(2)-. Dương khí là một thứ bảo vệ bên ngoài, thời âm ở trong mới bền vững. phàm dương tà (tức tà phong) phạm vào người, phạm vào khí phận ở ngoài bì mao trước. Người thiện trị giúp sức cho dương khí để làm cho tuyên tán, bỏ tà phong đi, thời không khi nào nó còn lẫn vào bên trong được nữa.
(3)-. Tà ở ngoài bộ phận bì-​mao, nếu không làm cho nó tuyên tán được, thời nó cứ lưu lại đây, rồi dần dần phạm vào bộ phận cơ-​phu (lượt da và thịt mỏng ở bên trong). Cơ phu cũng còn thuộc về khí phận bên ngoài, nên cũng có thể hòa giải cho tiết ra ngoài bì mao.
(4)-. Tà ở cơ-​phu không làm cho nó giải đi được, nó sẽ cứ yểm lưu lại đây, rồi dần dần lấn vào bộ phận kinh lạc (kinh là những mạch máu chạy dọc, Lạc là những mạch máu chạy ngang). Kinh lạc, bên trong liền với tạng phủ, bên ngoài chằng khắp thân mình. Khi tà đã vào đến đây nên kịp làm cho nó theo kinh mà giải, đừng để cho nó lại vào tạng phủ.
(5)-. KIM-​QUỸ YẾU LƯỢC nói : “Kinh lạc bị tà phạm vào tạng phủ, đó là cái nguyên nhân bịnh ở bên trong.”. vậy khi tà đã vào tới phủ tức là “Lý” rồi, chỉ có thể cho nó bài tiết theo cái đường lối của Phủ mới mong khỏi được.
(6)-. Mạch của 6 tạng (TÂM-​BÀO-​LẠC là tạng thứ 6 để ứng với 6 phủ : Thủ Quyết-​Âm Tâm-​bào-​lạc) do tạng chàng vào phủ ; mạch của 6 phủ, do phủ chàng sang tạng. Vậy nên kinh-​khí của tạng-​phủ lúc này cũng liên lạc hội thông với nhau. Khi tà đã vào tới phủ, thời lẽ tất nhiên nó giải theo đường lối của phủ, thời lẽ tất nhiên là nó sẽ phạm tới tạng. Tà còn chập chờn ở vào khoảng “kinh-​khí” của tạng, còn có hy vọng liệu trị ; nếu đã phạm hẳn vào tạng thời thật là hết hy vọng.
Trên đây dùng chữ “nữa sống nữa chết” cũng chỉ là nói “gượng” vậy thôi.
Ta nên nhận rằng : “Bì phu, khí phận thuộc Dương, kinh-​lạc huyết phận thuộc Âm ; bên ngoài là dương, bên trong là âm ; phủ là dương, tạng là âm… tà ở dương phận còn dễ chữa ; tà tới âm phận rất khó chữa…..”
* Y-​giả nên đề phòng ngay từ trước, đừng bỏ dễ làm khó mà lại hối hận về sau.
(7)-. Tà khí của trời do bì phu mà phạm vào lý-​âm, nên nói rằng : “hại 5 Tạng”. Thủy cốc vào Vị, do sự nóng lạnh không thích hợp, hoặc nhiều ít không điều độ thời bịnh sinh ra ở Trường vị nên nói rằng : “hại 6 phủ”. Thấp khí do đất phát sinh, khi phạm vào người tất do từ chân trước, cho nên mới nói: “hại bì-​nhục-​cân-​mạch”.
Tóm lại, tạng là âm, phủ là dương ; cân mạch huyết phận là âm, bì phu cơ nhục khí phận là dương. Cái tà khí của trời có âm có dương ; cái khí của Thủy-​cốc có nhiệt, có hàn… mà sinh ra bịnh ở thân hình. Tạng phủ con người cũng có âm dương khác nhau. Người thiện trị phải phân biệt cho rõ mới được.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Cho nên người khéo dùng châm (1) từ âm phận dẫn qua dương phận, từ dương phận dẫn qua âm phận lấy bên hữu để trị bên tả, lấy bên tả để trị bên hữu ; Lấy ngoài biểu để biết trong lý ; lấy tinh thần của mình để biết bịnh tình của người bịnh. Do đó, để xem cái nguyên nhân của bịnh nó phát sinh từ đâu và cái lý tà, chính, hư, thực, thế nào… Như thế mới khỏi gây nên tai hại (2) .
(1)-. CHÂM : một thứ kim dùng để tiêm vào các huyệt và mạch máu làm cho bịnh tà tiết ra ngoài. Về phương pháp dùng châm này, có cả “bổ” chứ không chỉ “tả” mà thôi. Mấy thiên sau đây cũng có nói đến, nhưng tường tận thời ở bộ LINH-​KHU.
(2)-. Trong thân thể con người, âm dương, khí huyết, nội ngoại, tả hữu, đều có gi­ao thông liên lạc nhau. Người dùng châm biết rõ rằng : bịnh ở dương tất phải đi qua âm, cho nên nhằm vào âm để dẫn cho ra dương ; hoặc nhằm vào dương để dẫn cho ra âm. Cũng vậy, cho đến cả 2 bên tả hữu, cũng thích bên này để cho giảm bên kia… phương pháp này rất huyền diệu, xem mãi về sau sẽ rõ.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Người khéo “CHẨN” xét ở sắc, án vào mạch, phải phân biệt âm dương trước đã (1) . Xét rõ thanh hay trọc, để biết thuộc về bộ phận nào (2) .
Coi hơi thở, nghe tiếng nói mà biết được sự đau đớn thế nào (3) .Xem quyền hành, qui cũ để mà biết được bịnh nó chủ về đâu (4) . Án tay vào bộ vị XÍCH-​THỐN, nhận rõ phù-​trầm, hoạt-​sắc… mà biết được bịnh nó vì đâu sinh ra (5) . Rồi lại xem đến cả người vô bịnh để rút kinh nghiệm, như thế sẽ không nhầm lẫn nữa (6) .
(1)-. CHẨN : tức là án 3 ngón tay vào bộ-​vị “Quan, Xích, Thốn” của bịnh nhân để nhận luồng của mạch máu chạy ở trong. Đó là “chẩn mạch”. Chữ CHẨN ở đây thời lại bao gồm cả 3 phương pháp “VỌNG, VĂN, VẤN”. Nên về sau đối với việc thăm bịnh thường gọi là TỨ CHẨN (4 phép chẩn) tức là “ VỌNG-​VĂN-​VẤN-​THIẾT”. Thiết cũng tức là để tay nhận mạch.
-- Trên đây nói : sắc là dương, huyết là âm ; nhưng tự trong “sắc” lại cũng có âm, dương khác nhau. Ở trong mạch cũng có âm dương khác nhau. Vậy người khéo chẩn cần trước phải phân biệt âm dương mới có thể hiểu được chính xác.
(2)-. Về sắc mặt, có sáng sủa (thanh) hay ảm đạm (trọc) khác nhau ; nhận rõ bộ phận của nó, sẽ biết được bịnh ở nơi nào --. Phép này thuộc về VỌNG.
(3)-. Nghe hơi thở và tiếng nói, cũng biết được sự đau đớn của bịnh nhân như thế nào. Hai điều này thuộc về “VỌNG và VĂN”.
(4)-. Xem sự phản ứng của mạch hợp với 4 mùa như thế nào :
- Về mùa Xuân, mạch ứng với QUI (thước tròn) vì dương khí mềm mại, có vẻ như thước tròn.
- Về mùa Hạ, mạch ứng với CỦ (thước vuông) vì dương khí mạnh mẽ, có vẻ như thước vuông.
- Về mùa Thu, mạch ứng với HÀNH (cán cân) vì âm dương lên xuống, cao thấp phải đều, có vẻ như cán cân.
- Về mùa Đông, mạch ứng với QUYỀN (quả cân) vì mùa Đông dương khí sụt xuống bộ phận dưới, có vẻ nặng như quả cân.
(5)-. THỐN : chủ về bộ phận trên thuộc Dương ; XÍCH chủ về bộ phận dưới, thuộc Âm. Mạch PHÙ là mạch ở Biểu, thuộc dương ; mạch TRẦM là mạch ở Lý, thuộc âm ; mạch HOẠT là bịnh tại Khí, thuộc dương ; mạch SẮC là bịnh tại Huyết, thuộc âm. Xét mạch nó ở trên dưới, biểu lý, hay khí huyết… để nhận xem bịnh từ đâu sinh ra.
(6)-. Chẩn mạch người mắc bịnh, lại chẩn cả người vô bịnh để cùng so sánh suy nghiệm. Đó chính là một phương pháp học chẩn rất cần thiết.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Bịnh khi mới phát sinh có thể dùng châm-​thích cho khỏi (1) . Khi bịnh thế đã thịnh, đừng vội rút bỏ châm, đợi tà-​khí suy dần sẽ thôi (2) .
Nhân cái lúc bịnh tà còn nhẹ, mà phạt Dương cho nó tiết ra (3). Đến khi bịnh thế đã thịnh, phải để cho nó giảm bớt dần ; đến khi bịnh thế suy thời phải giúp ích chính-​khí cho nó đầy đủ thêm (4) .
Hình bất túc : dùng khí để ÔN ; Tinh bất túc : dùng vị để BỔ (5) .
(1)-. THÍCH : dùng mũi “châm” tiêm vào trong “huyệt” ở da thịt. Khi bịnh mới phát sinh, tà khí còn ở ngoài bì phu, nên dùng châm để “thích” có thể khỏi ngay được.
(2)-. Nếu bịnh đã nặng, tức là tà khí tụ nhiều : để châm thong thả, đừng rút ra vội, để cho tà khí rút bớt ra dần.
(3)-. Bịnh mới phát sinh, dùng châm nhẹ mà nông. Bịnh đã lâu thời dùng châm mạnh mà sâu.
(4)-. Đến lúc cuối cùng, bịnh thế đã suy, nên nhân cái lúc tà khí đã suy mà làm cho chính-​khí được mạnh thêm lên.
Đây nói về phương pháp dùng châm, chia làm 3 thời kỳ, tức là “ SƠ-​TRUNG-​MẠT”.
-- SƠ : tức là thời kỳ “CÔNG” (Đánh đuổi tà khí đi);
-- TRUNG : thời kỳ “ĐIỀU HÒA” (dùng cách dịu dàng, êm ái để dần dần dồn bỏ bịnh tà);
-- MẠT : (cuối cùng) tức là thời kỳ THÂU-​BỔ.
Tiết này tuy nói về phương pháp dùng châm, mà về phương pháp “dụng dược” cũng không ra ngoài phạm vi ấy.
(5)-. HÌNH : hình thể cơ nhục ; TINH : âm-​tinh của 5 Tạng. Câu này dạy cho y-​giả biết dùng thuốc không nên thiên về một bên.
Như trên kia có nói : “vị theo về Hình, Hình nhờ về vị”. Vậy nếu hình bất túc, thời nên lấy vị để làm cho ÔN. Đây lại nói : “dùng khí để ÔN…” . nhưng trên lại nói : “vị làm thương Hình…”. Xem đó thời biết “vị” cũng có khi làm thương Hình. Nhưng vị lại không thể không có khí, nên mới nói : “dùng khí để ÔN, không nên chuyên dùng vị” tức là theo cái nghĩa “độc âm thời không sinh” vậy (như dùng âm-​dược phải kèm cả dương-​dược).
Trên kia có nói : “KHÍ theo về TINH, TINH nhở ở KHÍ…”. Vậy nếu Tinh bất túc thời nên lấy khí để BỔ. đây lại nói : “ lấy vị để Bổ” --. Nhưng trên lại có nói : “ Khí làm thương TINH…” thời thiên về bên Khí cũng có thể làm thương đến Tinh ; nên khí tất lại phải có cả vị. Nên mới nói : “dùng vị để BỔ” không nên chuyên dùng khí ; tức là cái nghĩa “cô Dương thời không thành” vậy. (như dùng dương-​dược phải kèm cả âm-​dược).
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Nếu tà ở bộ phận cao : làm cho nó vọt lên ; nếu ở bộ phận dưới : dẫn cho nó hạ xuống ; nếu đầy ở bộ phận giữa : nên do trong mà tả đi (1) .
Nếu là tà ở ngoài Biểu : tẩm vào nước cho phát hãn (2) ; nếu ở Bì-​mao : làm cho phát tán (3) ; nếu tà quá mạnh : nên dùng phép án-​ma cho thâu dẫn (4) ; nếu là Thực : nên tán và tả (5) .
Xét rõ âm dương để chia nhu-​cương (6) . Dương bịnh trị ở âm. Âm bịnh trị ở dương (7) .
Định rõ khí-​huyết, cần giữ bộ vị (8) ; nếu huyết thực : làm cho nó hành ; nếu khí hư : nên tuyên dẫn cho thông-​xướng (9) .
(1)-. Con người chia làm 3 bộ phận : ở trên thuộc Dương, ở dưới thuộc Âm. Nếu ở vào khoảng Hung-​cách nên làm cho nó vọt lên – tức là dùng phương pháp THỔ. Nếu bịnh tà ở bộ phận dưới : nên dẫn cho nó hạ xuống – tức là Thấp ở bộ phận dưới, nên dùng phép làm cho lợi tiểu tiện. --. Đầy ở bộ phận giữa (tức là Trung-​mãn), phần nhiều do súc tích, tà khí hữu dư, thời dùng phép TẢ đi – tức là dùng thuốc HẠ.
ÁN : theo kinh LINH-​KHU bàn về chứng Trướng-​mãn có nói : “Năm tạng, sáu phủ đều có chứng Trướng..” mà nói : “không cần hỏi hư thực, cần phải “tật tả” (tức tả ngay mau) --. Nhưng các Y-​giả đời nay không ai dám nói đến TẢ (tức Hạ) mà bịnh nhân cũng rất sợ Tả, để cho cái chứng “Trung mãn” dăn dai mãi không khỏi, dần dần kinh lạc vít lấp mà chết. Vậy thời nếu vì sợ Tả mà chết, chi bằng tả sớm mà sống, chẳng còn hơn ru ? Ngẩm vậy, mới biết cái nghĩa “tật tả” ở LINH-​KHU là rất đúng vậy.
(2)-. “tẩm vào nước”. Đời xưa có phép dùng nước tẩm vổ vào bịnh nhân cho ra mồ hôi, để trị chứng tà ở biểu.
ÁN : ở ta có phép “xông” cũng hơi giống phép này.
(3)-. Tà ở bộ phận bì mao, làm cho ra mồ hôi để phát tán đi.,
(4)-. ÁN-​MA : tức là đấm bóp, để cho khí huyết lưu thông (nhưng đấm bóp cũng phải có phương pháp).
(5)-. “Thực” có chia âm dương khác nhau. Dương thực thời nên dùng phép tán, âm thực thời nên dùng phép tả.
(6)-. Âm dương thuộc về Thiên đạo. Nhu cương thuộc về Địa đạo. Con người phải hợp cả lại để thi hành phép điều dưỡng.
(7)-. “Trị” là làm cho quân bình. Như cảm phải Dương tà của trời, thời phải “trị” từ âm khí của con người ; khiến âm khí thịnh thời cái dương nhiệt kia sẽ tự lui. Nếu cảm về âm tà của trời, thời phải trị từ dương khí của con người ; khiến dương khí thịnh thời âm tà tự tán. Xem đó thời biết : “tà chính âm dương đều có đối đãi lẫn nhau” – điều trị phải có khuông phép mới được.
(8)-. Hai câu nối tiếp với nghĩa hai câu trên : như tà khí ở dương phận thời nên bảo vệ phần âm huyết đừng để cho tà lọt được vào huyết phận ; như tà khí ở huyết phận, thời nên bảo vệ phần dương khí, đừng để cho lọt vào dương phận ; bởi dương tà làm thương khí, âm tà thương huyết… Vậy phải giữ cho nó tự yên ở bộ vị, thời tà mới khỏi xâm lấn.
(9)-. Kinh nói : tà ở huyết phận, mà huyết thực nên hành huyết để khu tà. Tà ở khí phận, mà khí hư nên dẫn lên dương khí để giúp chính khí. Bởi dương khí vốn phát nguyên từ bộ phận dưới.
Trên đây nói : “tà phạm vào được, do bởi chính khí hư…” là chỉ về chính-​khí.
--o0o--
TIỂU DẪN ________________________________________________________________________
CHƯƠNG 6
ÂM-​DƯƠNG LY-​HỢP LUẬN (1)
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Hoàng-​Đế hỏi rằng :
-- Trẩm nghe : Trời là Dương, Đất là Âm ; Nhật là Dương, Nguyệt là Âm. Hợp cả tháng đủ tháng thiếu, cộng 360 ngày, thành một năm. Con người cũng ứng theo vậy. Nay xét về 3 kinh âm, 3 kinh dương, lại có khi không tương ứng là vì sao ?
Kỳ-​Bá thưa rằng :
-- Về cái lẽ âm dương, lúc bắt đầu, đếm có thể đến số 10, suy ra có thể tới số 100, do 100 đếm tới 1.000, do nghìn đếm tới vạn … Rồi đếm không thể đếm. Nhưng về cốt yếu, vẫn chỉ có “một” (2).
(1)-. Âm tức là âm-​kinh, Dương tức là dương-​kinh.
Trong thiên này nói về sự ly hợp của 3 kinh dương, 3 kinh âm thuộc về THỦ (tay) ; 3 kinh dương, 3 kinh âm thuộc về TÚC (chân). Cùng với khí âm dương của trời đất có tương quan với nhau nên đặt ra tên thiên.
TRƯƠNG-​ẨN-​AM nói: thiên này cùng thiên CÂN-​KẾT ở kinh LINH-​KHU cùng làm biểu lý.
(2)-. Ba kinh âm, ba kinh dương của Hoàng-​Đế hỏi đây là chỉ về cả các kinh thuộc Thủ và các kinh thuộc Túc mà nói :
Theo ý Kỳ-​Bá : “âm dương chỉ là một vật chỉ có danh mà không có thực hình, không thể sao đếm được. Nhưng cái cốt yếu chỉ có “một” mà thôi.”
DỊCH nói: “một Âm, một Dương gọi là ĐẠO” (Nhất Âm, Nhất Dương chi vị Đạo)
MẠC-​TỬ-​TẤN nói : “trời đất định vị, nhật nguyệt vận đi, hàn thử thay đổi, âm dương ra vào… đều do một khí THÁI-​CỰC sinh ra”.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Trời che đất chở muôn vật mới sinh. Khi chưa tiết ra khỏi mặt đất mệnh danh là Âm-​sử, tức là âm ở trong âm. Khi đã tiết ra khỏi mặt đất, mệnh danh là dương ở trong âm (1) .
Dương phát triển ra chính-​khí, âm đứng vào địa vị chủ trì (2) . Nhờ đó sự sinh phát triển ở mùa Xuân, sự trưởng phát triển ở mùa Hạ, sự thâu phát triển ở mùa Thu, sự tàng phát triển ở mùa Đông. Nếu trái lẽ thường đó, khí 4 mùa của trời đất sẽ bị vít lấp (3) .
Vậy cái lẽ biến của âm dương, hợp với thể chất của con người, cũng có thể đếm mà biết được (4) .
(1)-. Có trời đất rồi mới có muôn vật. Nhưng trời đất hóa dục muôn vật đều phải do sự “xuất, nhập” cùa khí âm dương trong 4 mùa, rồi mới có thể phát triển được cái công năng “sinh, trưởng, thâu, tàng” để làm chung thủy cho muôn vật. Khi khí đó chưa tiết ra khỏi mặt đất, mệnh danh là “âm-​sử” (sử là ở) tức là còn ở tại trong âm, nên gọi là “âm ở trong âm”. Tới khi đã ra khỏi mặt đất là dương, đáng lẽ phải gọi là “dương sử” , nhưng dù sao dương cũng không lìa được âm nên mới gọi là dương ở trong âm.
(2)-. Dương có phát triển chính khí, muôn vật mới nhờ đó mà sinh sôi nảy nở. âm có ở bên trong giữ cái nhiệm vụ chủ trì, thời muôn vật cũng mới hoàn toàn thành lập được.
(3)-. Câu này nói: sự “xuất, nhập” của địa-​khí có thể nhân cái 4 mùa của thiên-​khí đã thi hành cái công năng sinh, trưởng, thu, tàng. Đó là cái lẽ thường về sự ly hợp của âm dương. Nếu trái lại, sẽ bị nguy biến ngay.
(4)-. Đây nói về cái biến của âm dương có thể dự tính được, thời ở con người sự biến dù có phức tạp đến đâu cũng có thể lường được.
Án : HOÀNG-​CỰC-​KINH-​THẾ Thư của THIỆU-​TỬ nói : “ Dương không thể độc lập, phải đợi có âm rồi mới lập, nên dương lấy âm làm nên tảng ; Âm không thể tự phát hiện, phải đợi có dương rồi sau mới phát hiện, nên âm lấy dương dẫn đường …” ý nghĩa cũng tương tự như đây.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Hoàng-​Đế nói rằng :
-- Xin cho biết sự ly hợp của 3 kinh âm, 3 kinh dương.
Kỳ-​Bá thưa rằng :
-- Thánh nhân ngoảnh mặt sang phương Nam để trị dân (1) , phía trước gọi là QUẢNG-​MINH (2) phía sau gọi là THÁI-​XUNG.
Cái nơi phát sinh ra Thái xung, gọi Thiếu-​âm (Thận), phía trên Thiếu âm gọi là Thái-​dương (tức Bàng-​quang). Thái dương gốc phát khởi từ Chí-​âm, kết ở Mệnh-​môn, gọi là Dương ở trong Âm (3) .
Từ khoảng giữa mình trở lên, gọi là Quảng-​minh (4) . Phía dưới Quảng minh là Thái-​âm (5), phía trước Thái-​âm là Dương-​minh (6). Dương-​minh gốc phát khởi từ Lệ-​đoài, gọi là Dương ở trong Âm (7)
Về “biểu” của Quyết-​âm là Thiếu-​dương. Thiếu-​dương gốc phát khởi từ Khiếu-​âm, gọi là Thiếu-​dương ở trong Âm (8) .
Xem đó thời biết : sự ly hợp của 3 kinh Dương : Thái-​dương là KHAI (mở), Dương-​minh là HẠP (đóng), Thiếu-​dương là KHU (cối cửa) (9) .
Ba kinh đó không nên để trái ngược nhau. “bác” mà không “phù” mệnh danh là NHẤT DƯƠNG (10) .
(1)-. Chữ Thánh-​nhân ở đây là dùng một danh từ tôn trọng đối với vua mà nói. Nhưng lại mượn đó để nói ví vào thân thể con người.
(2)-. QUẢNG-​MINH tức là TÂM, Tâm bộ vị chủ về Nam-​phương, nam phương thuộc Hỏa, dương khí sáng tỏ nên gọi là Quảng-​minh (rộng sáng) ; một danh từ hình dung và giả tá.
Ở đây phàm nói đến chữ “trước” tức là chỉ về bộ phận trên là Nam-​phương. Trong con người lấy Tâm-​Hung là trước là Nam-​phương, lấy Yêu-​Thận làm sau là phương Bắc. Thái-​xung là nguồn gốc của Âm-​huyết, bộ vị tại Hạ-​tiêu, dẫn lên phía sau lưng.
(3)-. Đường mạch của kinh Thái-​dương phát khởi từ huyệt CHÍ-​ÂM tại ngón chân út, rồi gi­ao kết tại huyệt MỆNH-​MÔN (tức là mắt). Đây là nói về Dương kinh thuộc TÚC THIẾU-​ÂM.
-- Thiếu-​âm với Thái-​dương “hợp” – Dương phát từ Âm cho nên ở phía trên Âm.
(4)-. Nửa người trở lên, Thiên-​khí làm chủ ; nửa người trở xuống Địa-​khí làm chủ. Dương phát từ Âm, do bộ phận dưới mà lên, cho nên nói : “từ giữa người trở lên gọi là Quảng-​minh”. -- Ở trên lấy phía trước làm Dương ; đây lại lấy từ giữa người trở lên làm Dương.
(5)-. Thái-​âm chủ về Trung-​thổ, mà là một cơ quan Chí-​âm ở trong Âm, cho nên bộ vị ở dưới Quảng-​minh.
(6)-. Thái-​âm (Tỳ) với Dương-​minh (Vị) “hợp” đều chủ về Trung-​thổ nên bộ vị ở trước Thái-​âm.
(7)-. LỆ-​ĐOÀI là tên huyệt, huyệt này ở đầu chỗ ngón chân cái và ngón chân trỏ giáp nhau. Mạch của Dương-​minh khởi thủy từ đó.
(8)-. Trên kia, vì cái khí của Thái-​dương ở trên cho nên nói : “phía trên Thiếu-​âm” ; Dương-​minh ở vào khoảng hai khí dương, mà lại ở vào Trung-​thổ, cho nên nói : “phía trước Thái-​âm”.
-- Quyết-​âm ở vào nơi cùng cực của âm, âm cực ở vào “lý”, mà lại sinh ra Dương ở “biểu”, cho nên gọi là phần biểu của Quyết-​âm.
-- Vì lấy trước, lấy trên, lấy biểu làm Dương ; mà như gọi là “trên, trước, biểu” tức là nói về cái khí của 3 kinh Dương --. Còn như : Chí-​âm, Lệ-​đoài, Khiếu-​âm… đều là kinh mạch của 3 kinh dương.
-- Mười hai kinh mạch thuộc về “THỦ và TÚC” , chủ về cái khí của 3 kinh Âm, 3 kinh Dương. -- . Đối với kinh mạch thời chia ra “tam âm, tam dương”. Đối với khí trong mạch bật nổi lên thời gọi là “Nhất âm, Nhất dương”.
-- Quyết-​âm tức là CAN ; Thiếu-​dương tức là ĐỞM.
(9)-. Cái khí âm-​dương, chia ra làm “tam âm, tam dương” cho nên mới có cái nghĩa “KHAI, HẠP và KHU” – tức là tỉ như cửa, có mở đóng, và cái “cối cửa” (tức là cái để cho cánh cửa xoay ra xoay vào) – Thái-​dương (Bàng-​quang : bọng đái) là một địa vị Cự-​dương (khí dương lớn. nhiều) ; chuyên chứa đựng Dương-​khí nên chủ về “KHAI”. Dương-​minh ở vào khoảng 2 kinh dương, nên chủ về “HẠP”. Thiếu-​dương là một nơi khí mới bắt đầu phát ra, nên chủ về “KHU”.
-- Không có “KHU” thời không có gì lập được, không có “HẠP” thời không thể dung vào ; không có “KHAI” thời không thể phát ra…
Xem đó thời biết : dù có “LY” nhưng tất phải có “HỢP”.
(10)-.Vậy nên, nếu bỏ “KHU” thời không thể “KHAI-​HẠP” được, hoặc bỏ “KHAI-​HẠP” thời còn gì là “chuyển KHU”. Nên về 3 kinh đó không thể để cho tương thất. Nói về mạch, vì thuộc Dương cân phải “PHÙ”, nhưng không thể quá phù. Dù có chia là 3 Dương nhưng cũng không thể vì sự “chia” đó mà thành ra thế khác ; vì rút lại chỉ có “NHẤT DƯƠNG” mà thôi.
-- Nói Nhất-​dương tức là nói mạch đều thuộc Dương. Trở lên nói về sự “LY-​HỢP” của 3 kinh Dương.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Hoàng-​Đế hỏi:
-- Xin cho biết sự ly-​hợp của 3 kinh Âm ?....
Kỳ-​Bá thưa :
-- Ở bên ngoài là Dương, ở bên trong là Âm (1) . Vậy ở bộ phận giữa là Âm, mạch Thái-​xung ở về phía dưới nên gọi là Thái-​âm (2) .
Thái-​âm gốc phát khởi tự ẨN-​BẠCH gọi là Âm ở trong Âm (3), phía sau Thái-​âm là Thiếu-​âm (Thận). Thiếu-​âm phát khởi tự DŨNG-​TUYỀN, gọi là Thiếu-​âm ở trong Âm (4)
Phía trước Thiếu-​âm gọi là Quyết-​âm (5) . Quyết-​âm gốc phát khởi tự ĐẠI-​ĐÔN. Đó là “tuyệt Dương” trong Âm-​kinh và gọi là “tuyệt Âm” (6) .
Do đó sự ly hợp của 3 kinh Âm : Thái-​âm là KHAI, Quyết-​âm là HẠP, Thiếu-​âm là KHU (7) .
Ba kinh đó không nên để trái ngược nhau “BÁC” mà chớ “TRẦM” mệnh danh là”NHẤT ÂM” (8).
(1)-. Dương-​khí “xuất” để chủ về bên ngoài ; Âm-​khí “thăng” mà chủ về bên trong.
(2)-. Hai khí âm dương đều phát xuất từ dưới. âm khí xuất mà ở bên trong, vì thế nên ở bên trong là Âm. Mà cái mạch để xuất phát là THÁI-​XUNG lại ở dưới mà “xung” lên trên, nên gọi là Thái-​Âm. Xung mạch là gốc của 12 kinh, cho nên 3 âm, 3 dương đều lấy XUNG-​MẠCH làm chủ.
(3)-. Huyệt ẨN-​BẠCH ở đầu ngón chân cái – Thái-​âm là chí âm ở trong Âm.
(4)-. Huyệt DŨNG-​TUYỀN ở tại dưới lòng (gan) bàn chân. Thiếu-​âm là cái khí “nhất âm sơ sinh”, cho nên gọi là Thiếu-​âm ở trong Âm.
(5)-. Thiếu-​âm chủ về THỦY, Quyết-​âm chủ về MỘC, sinh từ Thủy, cho nên nói : “Thiếu-​âm ở về phía trước”.
(6)-. Huyệt ĐẠI-​ĐÔN tại khớp Ngọc-​Đường ở ngón chân cái ; tức là nơi phát sinh của Túc Quyết-​âm CAN-​kinh. Về kinh này là một kinh tuyệt-​dương. Tức là hết hẳn không còn có Dương, là thuần âm. “tuyệt âm” là hoàn toàn thuần âm. Nghĩa chữ “tuyệt” là hoàn toàn hết thảy.
(7)-. Thái-​âm là một nơi đầy nhiều khí âm, nên chủ KHAI ; Quyết-​âm là một nơi “gi­ao-​tận”—đều hết—của khí âm, nên chủ HẠP ; Thiếu-​âm là một nơi khí Nhất-​dương bắt đầu sinh ra, nên chủ về KHU.
(8)-. Dương-​khí chủ về “PHÙ” , nên nói “chớ quá PHÙ ” ; Âm khí chủ về “TRẦM” nên nói “chớ quá TRẦM”. Bởi cái khí của 3 kinh Dương KHAI-​HẠP ở trong và ngoài hình thân con người. Cái khí của 3 kinh Âm KHAI-​HẠP ở trước và sau trong nội bộ… nên mới nói : “Dương ở ngoài do sự sai khiến của Âm ở trong ; Âm ở trong nhờ sự bảo vệ của Dương ở bên ngoài” --. Sở dĩ gọi là “nhất âm” là vì mạch đều thuộc Âm vậy.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Âm-​dương đi lại không ngừng, chứa chất sự lưu truyền làm một chu ; khí ở Lý và Biểu, cùng nhau thành công (1).
(1)-. Âm-​khí tích ở bên trong, Dương-​khí truyền ở bên ngoài. Bắt đầu từ lúc mặt trời mọc. dương khí mới phát sinh, mặt trời đúng trưa thời Dương khí thịnh. Xế chiều dương khí bắt đầu suy, tới mặt trời lặn thời dương khí trở vào với khí Âm. Một ngày một đêm thành một CHU (vòng). Âm khí mở đóng bên trong, Dương khí xuất nhập bên ngoài biểu. nhờ sự ly hợp đó mà thành “kiếp sống” của con người.
Án : âm dương dù có ly-​hợp, nhưng tất phải có sự đi lại không ngừng. bắt đầu từ Thủ Thái-​âm PHẾ, đến Thủ Dương-​minh ĐẠI-​TRƯỜNG, Túc Dương-​minh VỊ, Túc Thái-​âm TỲ, Thủ Thái-​Dương TIỂU-​TRƯỜNG, Thủ Thiếu-​âm TÂM, Túc Thái-​Dương BÀNG-​QUANG, Túc Thiếu-​âm THẬN, Thủ Quyết-​âm TÂM-​BÀO-​LẠC, Túc Quyết-​âm CAN…. Như thế là đi hết một CHU. Theo giờ cổ, cứ 2 khắc thời khí đi một chu ; 100 khắc thời 50 chu. Mạch khí dẩn ở trong, hình thế tỏ ở ngoài. Âm dương tuy có ly-​hợp, mà thực là tương thành một cách rất tinh khéo. Vậy xem đó thời âm dương ở con người, rất hợp với âm dương của trời đất vậy./.
-- oo00oo --
TIỂU DẪN ________________________________________________________________________
CHƯƠNG 7
ÂM-​DƯƠNG BIỆT LUẬN
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Hoàng-​Đế hỏi :
-- Người có 4 kinh, 12 tùng là thế nào ?
Kỳ-​Bá thưa :
-- Bốn kinh ứng với 4 mùa ; 12 tùng ứng 12 tháng. 12 tháng ứng 12 mạch (1).
(1)-. “BỐN KINH” là tượng mạch “chính” của 4 mùa. Như : mạch mùa Xuân thời HUYỀN, mạch mùa Hạ thời CÂU, mạch mùa Thu thời MAO, mạch mùa Đông thời THẠCH. Bốn thứ kinh mạch để ứng theo với khí của 4 mùa.
“12 TÙNG” là chỉ về 3 kinh Dương, 3 kinh Âm của Thủ và Túc (tùng nghĩa là theo). Bắt đầu từ Thủ Thái-​âm thuận hành tới Túc Quyết-​âm, để ứng 12 tháng. Tỉ như : Thủ Thái-​âm ứng với tháng Giêng (Dần), thủ Dương-​minh ứng với tháng 2 (tháng MÃO) ; túc Dương-​minh ứng với tháng 3 (tháng THÌN) ; túc Thái-​âm ứng với tháng 4 (tháng TỴ) ; Thủ Thiếu-​âm ứng với tháng 5 (tháng NGỌ) ; Thủ Thái-​dương ứng với tháng 6 (tháng VỴ) ; Túc Thái-​dương ứng với tháng 7 (tháng THÂN) ; Túc Thiếu-​âm ứng với tháng 8 (tháng DẬU) ; Thủ Quyết-​âm ứng với tháng 9 (tháng TUẤT) ; Thủ Thiếu-​dương ứng với tháng 10 (tnáng HỢI) ; Túc Thiếu-​dương ứng với tháng 11 (tháng TÝ) ; Túc Quyết-​âm ứng với tháng 12 (tháng SỮU).
“12 MẠCH” là kinh mạch của 6 Tạng, 6 Phủ. Cái khí của 3 kinh Âm, 3 kinh Dương ứng với 12 tháng ; 12 tháng ứng với 12 mạch.
Thiên này phân biệt âm-​dương để biết sống chết, nên gọi là “ ÂM-​DƯƠNG BIỆT LUẬN”
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Mạch đó Âm-​Dương khác nhau. Biết dương sẽ biết được âm, biết âm sẽ biết được dương (1) .
Phàm về dương gồm có cả năm (5) ; năm lần năm sẽ có hai mươi lăm phần Dương (2) .
Phàm gọi là Âm, tức là CHÂN-​TẠNG. Nếu chân-​tạng hiện sẽ bại ; bại sẽ chết (3) .
Phàm gọi là Dương, tức là dương của Vị-​quản (4) .
Phân biệt được Dương sẽ biết được bịnh ở đâu ; phân biệt được Âm sẽ biết được thời kỳ chết hay sống (5) .
Mạch của 3 kinh Dương ở đầu ; mạch của 3 kinh Âm ở tay, nhưng cũng chỉ do có một (6).
Phân biệt được mạch về Dương, sẽ biết được cái ngày kỵ của bịnh ; phân biệt được mạch về Âm, sẽ biết được thời kỳ chết hay sống (7) .
Nhớ kỹ về mạch Âm-​Dương, không nên tin lời bàn vậy (8) .
(1)-. Mười hai kinh mạch do tạng-​phủ âm-​dương phối hợp. Cho nên biết Dương có thể biết được Âm. Biết Âm có thể biết được Dương. Biết rõ được âm dương thời có thể biết được sống hay chết.
(2)-. Tiết này lấy CHÂN-​TẠNG của Vị-​khí để phân biệt âm-​dương. Dương khí ở trong VỊ, tư dưỡng cho cả 5 Tạng. năm tạng cùng sinh lẫn cho nhau, mà tạng nào cũng có đủ cái khí của tạng kia, nên mới nói : “năm lần năm sẽ có hai mươi lăm phần Dương”.
(3)-. Năm tạng thuộc âm. Nghĩa chữ “TẠNG” tức là “Tàng” (cất dấu) ; “THẦN” tàng ở đó mà không phát hiện ra bên ngoài. Sở dĩ không phát hiện ra bên ngoài là nhờ có cái khí Dương-​hòa của Vị-​khí. Nếu vị khí không có thời mạch của Chân-​tạng sẽ phát hiện, thế tức là Tạng-​khí bại, bại thời tất phải CHẾT.
(4)-. Trên kia nói “hai mươi lăm phần Dương” tức là chỉ về cái dương-​khí do Vị-​quản sinh ra.
Vị-​quản ở vào bộ phận Trung-​Tiêu. Chuyên chủ về biến hóa cái tinh-​khí của thủy-​cốc để tư dưỡng 5 Tạng. Xét về mạch của 4 mùa thời : mùa Xuân mạch HUYỀN, mùa Hạ mạch HỒNG, mùaThu mạch PHÙ, mùa Đông mạch TRẦM, mùa Trưởng-​Hạ mạch HÒA-​HOÃN (tức là dịu dàng, êm ái, tượng mạch của Thổ).
Xét về chính mạch của 5 Tạng thời : Can mạch HUYỀN, Tâm mạch HỒNG, Tỳ mạch HOÃN, Phế mạch SẮC, Thận mạch TRẦM. Như : về mùa Xuân Can-​mạch hơi Huyền mà Trường ; Tâm-​mạch hơi Huyền mà Hồng ; Tỳ-​mạch hơi Huyền mà Hoãn ; Phế-​mạch hơi Huyền mà Sắc ; Thận-​mạch hơi Huyền mà Trầm….
Về mùa Hạ : Can-​mạch thời hơi Hồng mà Huyền ; Tâm-​mạch hơi Hồng mà Đại ; Tỳ mạch hơi Hồng mà Hoãn ; Phế-​mạch hơi Hồng mà Sắc ; Thận-​mạch hơi Hồng mà Trầm. v.v…..
Bốn mùa, năm tạng, lúc nào cũng có kiêm cả cái VỊ-​KHÍ hơi hòa….. như thế là 25 phần Dương vậy.
(5)-. Nếu phân biệt được cái khí Dương-​hòa của VỊ-​khí thời một khi thấy có vẻ không hòa, sẽ biết ngay mắc bịnh ở đâu. Nếu phân biệt được cái Âm-​mạch của Chân-​tạng thời sẽ biết : nếu là Can-​mạch phát hiện, thời kỳ 18 ngày chết ; nếu là Tâm-​mạch phát hiện, thời kỳ 9 ngày chết v.v…
Tiết này nói Chân-​tạng là Âm, Vị-​khí là Dương ; so với 2 tiết trên dưới nói về âm-​dương của kinh mạch khác nhau.
(6)-. Tiết này lại nói về âm-​dương của 12 kinh mạch. Những mạch thuộc về 3 kinh Dương của Thủ và Túc : từ tay chạy lên đầu, rồi lại từ đầu chạy xuống chân, cho nên nói : “mạch 3 kinh Dương ở đầu”. Mạch của 3 kinh Âm của Thủ và Túc : từ chân chạy lên bụng, rồi từ bụng chạy ra tay. Cho nên nói : “mạch 3 kinh Âm ở tay”.
Mười hai kinh mạch dù có thủ-​túc, âm-​dương khác nhau, nhưng đều do một “gốc” mà xuất đi cả :
Mạch của Thủ Thái-​âm PHẾ gi­ao với Thủ Dương-​minh ĐẠI-​TRƯỜNG ; Đại-​trường gi­ao với Túc Dương-​minh VỊ ; Vị gi­ao với Túc Thái-​âm TỲ ; Tỳ gi­ao với Thủ Thiếu-​âm TÂM ; Tâm gi­ao với Thủ Thái-​dương TIỂU-​TRƯỜNG ; Tiểu-​trường gi­ao với Túc Thái-​dương BÀNG-​QUANG ; Bàng-​quang gi­ao với Túc Thiếu-​âm THẬN ; Thận gi­ao với Thủ Quyết-​âm TÂM-​BÀO-​LẠC ; Tâm-​bào-​lạc gi­ao với Thủ Thiếu-​dương TAM-​TIÊU ; Tam-​tiêu gi­ao với Túc Thiếu-​dương ĐỞM ; Đởm gi­ao với Túc Quyết-​âm CAN ; Can gi­ao với Thủ Thái-​âm PHẾ ….. vì vậy nên gọi là “MỘT” (nhất quán).
(7)-. “phân biệt được mạch về Âm” MẠCH : tức là mạch chứng ; ÂM : là “nhất âm, nhị âm, tam âm”.
“phân biệt được mạch về Dương” MẠCH: là mạch chứng ; DƯƠNG : tức là sự phát bịnh do “nhất dương, nhị dương, tam dương” và “DƯƠNG KẾT”
Nếu phân biệt được mạch Dương, sẽ biết được sự “KỴ” của chứng đó ; còn về Âm-​mạch, có thể định đoạt được sống hay chết.
(8)-. Câu này khuyên học-​giả nên ghi nhớ cẩn thận, không nên nói bậy tin càn.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Phàm mạch gọi là Âm dương : nhân ở “KHỨ” là Âm ; “CHÍ” là Dương ; tĩnh là âm, động là dương ; TRÌ là âm, SÁC là dương. (1)
Phàm muốn nhận mạch của Chân-​tạng, nếu Can “chí” HUYỀN-​TUYỆT và CẤP : 18 ngày sẽ chết ; Tâm chí Huyền tuyệt : 9 ngày sẽ chết ; Phế chí huyền tuyệt : 12 ngày sẽ chết ; Thận chí huyền tuyệt : 7 ngày sẽ chết ; Tỳ chí huyền tuyệt : 4 ngày sẽ chết. (2)
(1). “KHỨ” là luồng mạch từ bộ vị dẫn đi ; “CHÍ” cũng như “LAI” là luồng mạch từ trong cánh tay hiện ra ở bộ vị.
Phàm Tạng thuộc Âm, Phủ thuộc Dương. Âm dương ở những kinh Thủ-​túc, tức là 12 kinh mạch của 6 Tạng, 6 Phủ. Vậy phải nhận ở các mạch tượng “ Lai – khứ - động – tĩnh – trì – sác” để phân biệt âm-​dương.
(2). Tiết này phân biệt âm dương thuộc Chân tạng Vị-​quản.
-- “HUYỀN-​TUYỆT” nghĩa là trơ trọi không còn một chút vị-​khí Dương hoà nào. – “CẤP” là gấp quá.
Đây nói về mạch của CAN, nếu đã huyền-​tuyệt, mà lại còn cấp, căng như dây cung dương thẳng ; thời tất phải chết, nhưng còn qua được 18 ngày. Những dự đoán về ngày chết, trên đây đều tính theo ở chỗ “tương khắc” mà nói . – Như Can-​mạch đã hiện cái trạng thái huyền tuyệt… Can thuộc Mộc, bắt đầu tính từ ngày Gíap-​Ất. đếm đến ngày Canh-​tân nữa là 10 ngày, cộng lại thành 18 ngày sẽ chết (vì Kim khắc Mộc) – Lại tỉ như từ ngày Giáp Tí đến ngày Tân-​Tỵ, cũng là 18 ngày.
*. TÂM mạch đã hiện cái trạng thái huyền tuyệt. Tâm thuộc Hỏa, đếm từ ngày Bính-​Đinh trở đi ; đến ngày Nhâm-​Qúy là 8 ngày, tất phải chết. (trên đây nói 9 ngày, cũng chỉ ở vào lúc ngày thứ 8 với ngày thứ 9 gi­ao tiếp với nhau thôi).
*. PHẾ-​mạch đã hiện cái trạng thái huyền-​tuyệt. Phế thuộc Kim, từ ngày Canh-​Tân mà đếm trở đi, đến ngày thứ 8 là ngày Bính Đinh ; lại đếm đến ngày Bính-​Đinh nữa, cộng là 18 ngày tất phải chết (trên đây nói 12 ngày, là từ ngày Canh-​Tân đếm trở đi, đó là Canh-​Tân lại gặp Canh-​Tân vậy).
*. THẬN-​mạch đã hiện cái trạng thái huyền-​tuyệt. Thận thuộc Thủy, từ ngày Nhâm-​Qúy đếm trở đi, đến ngày Mậu-​Kỹ là 7 ngày, tất phải chết.
*. TỲ-​mạch đã hiện cái trạng thái huyền tuyệt. TỲ thuộc Thổ, từ ngày Mậu-​Kỹ đếm trở đi, đến ngày Giáp-​Ất là 8 ngày tất phải chết (trên đây nói 4 ngày, là trừ bỏ ngày Mậu-​Kỹ mà chỉ tính đến ngày Giáp.)
Về đoạn dự đoán những ngày chết trên đây, cũng chỉ là nói về cái lý và đại khái, ta không nên nhất thiết lấy làm định luật ; vì Âm-​dương, Tạng-​phủ biến hóa vô cùng. Thường khí ở trong tương khắc mà lại có tương sinh, thời đáng lẽ chết mà lại không chết…. gặp trường hợp đó ta cần phải xét cả toàn diện mới được.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Bịnh về Nhị-​dương, phát sinh bởi TÂM và TỲ. Về con gái do sự uất kết, khiến cho nguyệt-​sự không thấy rồi truyền thành chứng PHONG-​TIÊU. Nếu lại truyền thành chứng TỨC-​BÔN sẽ chết không chữa được. (1)
(1). NHỊ-​DƯƠNG tức là Túc Dương-​minh VỊ kinh. Vị là một cơ quan Thương-​lẫm (kho đụn). nhiệm vụ của nó là thâu nạp thủy cốc (thức ăn). Giờ lại không thâu nạp được là vì sao ? -- Chính là bởi TÂM-​TỲ gây nên. Đơn cử như con gái , do sự uất kết ở Tâm, Tâm không sinh được huyết, huyết không nuôi được TỲ. Thoạt tiên, VỊ còn thâu nạp, nhưng TỲ không giúp VỊ để thi hành cái công năng vận hóa…. Dần dần VỊ cũng không thâu nạp được nữa. Do đó, mới biết rõ được là VỊ bịnh do TÂM-​TỲ gây nên. – Lại do đó, thủy cốc suy ít, không có gì để biến hóa ra cái khí tinh vi, huyết mạch bởi đó mà khô, kinh-​thủy bởi đó mà không thấy. Huyết đã khô, khí đã uất, “Nhiệt” đã sinh ra. Nhiệt cực thời Phong sinh ; cơ nhục do đó mà tiêu-​thước, nên mới gọi là “PHONG-​TIÊU”. – Lại do đó, hỏa phạm lên Phế-​kim, gây nên chứng thở gấp, thượng-​bôn. (TỨC là hơi thở, BÔN là khí nghịch lên). Mỗi lần thở phải so cả vai lên.
Tóm lại, TÂM chủ huyết, PHẾ chủ khí, TỲ là gốc của 5 Tạng, VỊ là biển của 6 Phủ…. Các cơ quan đó đồng thời mắc bịnh, phỏng còn sống sao được. Nên mới nói quyết là “chết không chữa được”.,.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Bịnh về Tam-​Dương, phát ra chứng Hàn-​nhiỆt (rét nóng) ; ở bộ phận dưới thành chứng UNG-​THỦNG, với NUY, QUYẾT, XUYÊN-​QUYÊN (1) .
Hoặc lại thêm chứng BÌ-​PHU khô khan ; hoặc chứng ĐỒI-​SÁN (2) .
(1)-. TAM-​DƯƠNG : là Túc Thái-​dương BÀNG-​QUANG kinh. Khí của Thái-​dương chủ về bộ phận Biểu. Khi tà khí phạm vào con người bắt đầu phạm vào bì-​mao, “tà với chính 2 bên xung đột nhau” nên mới gây nên chứng HÀN-​NHIỆT (sốt rét, sốt nóng).
--. Thái-​dương là một cơ quan chủ về “KHAI : khi đã mắc bịnh thời không còn cái năng lực KHAI” nữa, do đó tà khí lọt vào tụ ở nhục lý (thớ thịt), mới gây nên chứng UNG-​THỦNG (mụn sưng).
--. Thái-​dương chủ về KHÍ và CÂN. Thái-​dương mắc bịnh, nên cân bị thương, do đó thành chứng NUY (gân rã rời, lỏng lẽo, không cử động được). Vì khí cũng mắc bịnh nên thành chứng QUYẾT (tay chân giá lạnh) và “XUYÊN-​QUYÊN” (đau nhức ở trong gân mạch thuộc bộ phân dưới).
-- Thái-​dương chủ về biểu-​phận, nhưng kinh mạch lại phát sinh tự bộ phận dưới, nên khi mới mắc bịnh thời sinh chứng Hàn-​nhiệt, dần dần về sau lại tiếp diển thêm những chứng trạng ở trên.
(2)-. Ví bị nhiệt nhiều, khiến tinh-​huyết hao tán nên da dẻ mới thành ra khô khan.
-- “ĐỒI SÁN” là một chứng đau nhức ở quả Thận, có khi đau rút lên cả tiểu-​phúc (phía dưới rún, tức bụng dưới) ; có khi quả Thận sưng to lên, rất đau. Chứng này cũng bởi “cân bị thương” mà sinh ra.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Bịnh về NHẤT-​DƯƠNG thiếu khí (ít hơi) hay HO, hay TIẾT (1) . Rồi truyền thành chứng TÂM-​THỐNG và chứng CÁCH (2) .
(1)- “Nhất-​Dương” tức là Túc Thiếu-​dương ĐỞM kinh. Thiếu-​dương chủ về cái khí sơ-​sinh. Nếu mắc bịnh sẽ thành chứng “thiếu khí” (hơi thở ngắn như ít hơi, hoặc hơi cử động sẽ thở gấp ngay). Thiếu-​dương vốn có Tướng-​hỏa, vì khí “thiếu” nên hỏa “thịnh” rồi thời thế phạm lên PHẾ kim, nên mới hay ho. Nhân dịp đó, cái tà của Phong-​mộc lại phạm tới Trung-​thổ, nên mới hay TIẾT (tức là đi ngoài nát phân, tựa đi tả, đi tháo).
(2)-. Con người sau khi uống ăn thủy-​cốc vào VỊ. Tinh khí lên TÂM thành huyết. Giờ TỲ đã bị thương, VỊ không nạp được thủy-​cốc, TÂM không có tư dưỡng, bị hư, nên thành chứng TÂM-​THỐNG (đau tim).
“CÁCH” tức là chứng ăn vào không chịu lại thổ ra. Gây nên chứng này cũng bởi Trung-​thổ bị khắc.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Bịnh về NHỊ-​DƯƠNG, NHẤT-​ÂM, chủ về kinh hãi, bối thống, hay ợ, hay vươn vai… gọi là chứng PHONG-​QUYẾT. (1)
(1)-. Nhị-​dương, Nhất-​âm : tức là VỊ với CAN. Can (Túc Quyết-​âm) thuộc Đông-​phương Phong-​mộc, nên phát bịnh thành chứng KINH-​HÃI (hoảng sợ). Mạch của Túc Dương-​minh (Vị) mắc bịnh : nghe tiếng động chạm mạnh thời giật mình, e ngại.
-- “BỐI” (lưng, khắp cả lưng chứ không chỉ đường xương sống) thuộc Dương. Quyết-​âm chủ về Xuân-​dương Can-​mộc, cho nên mắc bịnh thời BỐI-​THỐNG. Tà khí hạm vào VỊ, khí dẫn ngược lên để tan đi, nên hay ợ ; vươn vai cũng do Vị khí bị nghẽn lên : muốn vươn cho dễ chịu. Hợp tất cả 4 chứng trên đây, nguyên nhân đều do Phong-​mộc mắc bịnh, phạm tới VỊ-​thổ, nên mệnh danh là PHONG-​QUYẾT.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Bịnh về NHỊ-​ÂM – NHẤT DƯƠNG hay Trướng, Tâm mãn, hay thở dài. (1)
(1)-. “NHỊ-​ÂM” là (Túc)Thiếu-​âm THẬN kinh, “NHẤT-​DƯƠNG” là (Túc)Thiếu-​dương ĐỞM kinh. Đởm tà hữu dư, xâm phạm vào TỲ-​thổ nên hay TRƯỚNG (bụng phồng vượt lên) ; THẬN tà hữu dư xâm phạm lên TÂM-​hỏa nên TÂM-​MÃN (đầy). Tâm-​hệ bị co rút thời khí đạo bị hẹp lại, nên phải THỞ DÀI cho tiết bỏ khí ra. – Nguyên Hán văn câu này dùng chữ “thiện-​khí”. Theo chú giải của Mã-​Nguyên-​Đài thời : “THIỆN-​KHÍ hay “tức hơi” đó là do “Đởm-​khí hữu dư” mà gây nên.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Bịnh về TAM-​ÂM – TAM-​DƯƠNG gây nên chứng THIÊN-​KHÔ, NUY-​DỊCH và TỨ CHI KHÔNG CỬ ĐỘNG ĐƯỢC. (1)
(1)-. Tam-​dương là Túc Thái-​dương BÀNG-​QUANG kinh. Tam-​âm là Túc Thái-​âm TỲ kinh. Mạch của Bàng-​quang từ đầu lưng dẫn xuống chân, mạch của Tỳ chủ về TỨ CHI (hai tay, hai chân). Vì 2 kinh đó mắc bịnh nên phát thành các chứng trạng trên.
-- THIÊN-​KHÔ : khô đét một nửa người.
-- NUY-​DỊCH : tay chân rã rời, lúc ở bên tả, lúc ở bên hữu, hàng biến dịch luôn.
--TỨ CHI BẤT CỬ : tay chân không cử động được.
Tiết này nói bịnh gây nên từ Thủy-​phủ rồi phạm lên TỲ-​Thổ.,
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Án vào mạch thấy bật lên “nhất-​dương” gọi là CÂU ; thấy mạch bật lên “nhất-​âm” gọi là MAO ; thấy Dương-​mạch bật lên mà CẤP gọi là HUYỀN. Thấy Dương-​mạch bật lên mà TUYỆT gọi là THẠCH. Thấy âm-​dương 2 mạch, có vẻ bình quân gọi là LƯU. (1)
(1)-. Tiết này nói về Mạch-​thế của 5 Tạng :
-- NHẤT-​DƯƠNG là Vi-​dương “bật lên” tức là luồng mạch bật lên đầu ngón tay của người án mạch – CÂU : hình dung từ tả cái trạng thái của luồng mạch lúc lại đầy đủ, lúc đi ngoằn ngoèo và chậm…. đó là mạch của TÂM.
-- NHẤT-​ÂM : là Vi-​âm, “MAO” : hình dung từ tả cái trạng thái của cái luồng mạch nhẹ nhàng như cái lông, đó là mạch của PHẾ.
-- Dương mạch bật lên, có vẻ căng thẳng nhưng không thẳng quá gọi là HUYỀN. “Huyền” : hình dung từ chỉ cái trạng thái của mạch như dây cung lúc dương, đó là mạch của CAN.
-- Dương mạch bật lên, mà lúc chùn xuống coi như tuyệt, gọi là THẠCH. “Thạch” : hình dung từ chỉ cái trạng lthái của mạch chìm xuống và rắn như đá, đó là mạch của THẬN.
-- “LƯU”: hình dung từ chỉ cái trạng thái của mạch hòa hoãn như giòng nước chảy, đó là mạch của TỲ.,
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Âm tranh giành ở bên trong, Dương rắc rối ở bên ngoài ; phách-​hãn không thâu tàng, tức nghịch sẽ nổi dậy ; rồi hun lên Phế, gây nên SUYỄN-​MINH (1) .
Âm đó sỉnh ra, gốc có hòa mới là hòa (2) . Nếu cương gặp cương, Dương-​khí sẽ bị phá tán ; Âm-​khí cũng bị tiêu vong (3) .
Cương-​nhu không hòa, kinh khí sẽ tuyệt (4) .
(1)-. Tiết này nói về hai khí Dinh-​Vệ (cũng là âm-​dương, là huyết-​khí) cốt ở điều hòa, không nên thiên thắng. Hòa thời khí âm dương sẽ sinh ra, thiên thắng thời khí âm dương sẽ giảm đi, kinh khí do đó mà tuyệt.
-- Kinh mạch tạng phủ ở trong con người cùng gi­ao thông tuần hoàn lẫn nhau, không lúc nào dứt. Âm ở bên trong để giữ gìn cho Dương ; Dương ở bên ngoài để bảo vệ cho Âm. Nếu âm khí thiên thắng không được dương khí để điều hòa, thời âm sẽ tranh giành ở bên trong. Nếu dương khí thiên thắng, không được âm khí để điều hòa, thời dương khí sẽ rắc rối ở bên ngoài.
-- Cao-​Sĩ-​Tông nói : “ Ở đây nói nếu 2 khí âm-​dương không hòa, thời sẽ sinh ra bịnh DƯƠNG-​KẾT, ÂM-​KẾT. còn như cương với cương gặp nhau thời lại là Dương truyền cho Dương, Âm truyền cho Âm… tức là một “tử hậu” (chứng chết) do âm dương tuyệt vậy”.
(2)-. Đây nói: âm phải liên lạc với dương. Vì thế nên âm-​dịch không nên để cho tiết ra ngoài. Hãn là một chất lỏng lo Huyết sinh ra . “PHÁCH-​HÃN” tức là hãn do PHẾ tiết ra (vì Phế tàng PHÁCH nên gọi hãn của Phế là Phách-​hãn). Kinh khí dẫn lên Phế, Phế là nơi tổng hội của trăm mạch, chuyển-​du tinh trấp ra bì-​mao, hãn ra khỏi bì mao, mà tinh huyết vẫn còn tàng ở âm. Nếu phách-​hãn không thâu tàng được, đó là hãn bị cưỡng ra, tinh huyết sẽ đó mà bị thương. Phế chủ về việc dẫn hành Dinh-​vệ âm dương. Nếu âm-​dịch của Phế tạng bị tiết ra ngoài, tức thời sinh ra TÁO-​NHIỆT ; nhiệt cực hàn sinh, tứ chi sẽ do đó mà Quyết-​nghịch ; nhiệt hun ở Phế, nên thành chứng SUYỄN-​MINH (thở gấp và hơi thở kêu khò khè).
(3)-. Đây nói : Dương có hòa với âm, mới đáng gọi là HÒA. Ngoại-​mạch là dương, Phủ-​mạch là dương, nhưng đều do 5 tạng, 5 hành mà sinh ra, nên mới nói là “Âm đó sinh ra”.
(4)-. “cương gặp cương” là dương không hòa với âm. Dương không hòa với âm thời dương-​khí bị phá tán, mà cô-​âm (âm trơ trọi có một mình) cũng bị tiêu vong..
Cương (dương) với Nhu (âm) không hòa, thời kinh-​khí sẽ tuyệt. kinh-​khí tuyệt, chỉ trong vòng 3, 4 ngày sẽ chết.,.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Về loài TỬ-​ÂM chẳng qua 3 ngày thời chết ; về loài SINH-​DƯƠNG chẳng qua 4 ngày thời chết (1)
Can truyền sang Tâm…. Gọi là SINH-​DƯƠNG, Tâm truyền sang Phế gọi là TỬ-​ÂM (2) .
Phế truyền sang Thận gọi làTRÙNG-​ÂM ; Thận truyền sang Tỳ gọi là TỊCH-​ÂM ; chết, không chữa được (3) .
(1)-. Năm Tạng do sự tương khắc mà truyền lẫn nhau gọi là TỬ-​ÂM ; do sự tương sinh mà truyền lẫn nhau gọi là SINH-​DƯƠNG.
Như : Can truyền sang Tâm, Tâm truyền sang Tỳ, Tỳ truyền sang Phế, Phế truyền sang Thận, đều gọi là SINH-​DƯƠNG. -- . Nếu : Tâm truyền Phế, Phế truyền Can, Can truyền Tỳ, Tỳ truyền Thận, Thân truyền Tâm.. đều gọi là TỬ-​ÂM.
Do sự tương sinh của Dương-​tạng mà truyền, cho nên chẳng qua 4 ngày (số chẳn) thời chết ; do sự tương khắc của Âm-​tạng mà truyền, cho nên chẳng qua 3 ngày (số lẻ) thời chết.
(2)-. Can-​mạch truyền Phế, Phế truyền Đại-​trường, Đại-​trường truyền Vị, Vị truyền Tỳ, Tỳ truyền Tâm, Tâm truyền Tiểu-​trường, Tiểu-​trường truyền Bàng-​quang, Bàng-​quang truyền Thận, Thận truyền Tâm-​bào-​lạc, Tâm-​bào-​lạc truyền Tam-​tiêu, Tam-​tiêu truyền Đởm, Đởm truyền Can…. Một Tạng một Phủ, một Thư (giống cái) một Hùng (giống đực) âm dương cùng xen nhau như cái vòng tròn không chổ đứt. – Đến như Can truyền Tâm, Tâm truyền Phế, Phế truyền Thận, Thận truyền Tỳ…. đó đều là kinh khí đã tuyệt, không sao chữa được.
(3)-. Phế truyền Thận, cũng là một loại Sinh-​dương. Nhân Phế truyền Thận đều thuộc về Tân-​tạng (giống cái). Thủy-​tạng mà lại truyền sang cái tạng không thắng được là Tỳ-​thổ, nên gọi là “TỊCH-​ÂM”. Đều là chứng chết, không chữa được.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Nếu kết về Dương thời THỦNG Ở TỨ CHI (1)
Nếu kết về Âm thời TIỆN HUYẾT một thăng ; tái kết thời tiện huyết 2 thăng ; tam kết thời 3 thăng (2) .
Nếu kết ở khoảng âm dương khe nhau, nhiều về bên Âm, ít về bên Dương, thời gọi là THẠCH-​THỦY, thủng ở Thiếu-​phúc (3) .
Hai Dương kết gọi là TIÊU (4)
Ba Dương kết gọi là CÁCH (5)
Ba Âm kết gọi là THỦY (6)
Một Âm một Dương kết, gọi là HẦU TÝ (7) .
(1)-. Đây nói về cái khí âm dương không hòa, tự kết mà gây nên bịnh. Tứ chi là gốc của mọi khí Dương. Khí theo về Hình, vì khí kết nên hình THỦNG (sưng). Câu này là tóm cả 3 kinh Dương mà nói.
(2)-. Âm khí kết ở bên trong mà không lưu hành được. Thời huyết sẽ ngừng tụ mà tiết trở xuống. Một âm-​kết, tiện huyết một thăng (tiếng Nôm gọi là “thưng”, mỗi thưng bằng chia năm một phần lít). Hai âm-​kết tiện huyết 2 thăng, ba âm kết tiện huyết 3 thăng…. Đây là khái quát cả 3 Âm mà nói.
Án : Biện-​Bạch-​Thiên nói : “mạch có Dương-​kết, Âm-​kết, lấy gì để phân biệt ? – Đáp rằng : mạch PHÙ mà SÁC, ăn được mà không đại tiện, gọi là Dương-​kết ; mạch TRẦM mà TRÌ, không ăn được, thân thể nặng nề, đại tiện lại rắn, gọi là Âm-​kết” . Xem đó thời biết : muốn phân biệt âm dương khí kết, nên xét ở “khứ, chí, phù, trầm, trì, sác” của mạch để nhận rõ là Âm hay Dương.
-- THỦNG Ở TỨ CHI : biết là Tam-​dương đều kết ; tiện huyết 3 thăng biết là 3 Âm đều kết.
-- Thấy hiện ra chứng “TIÊU”, biết là kết tại Nhị-​dương, sẽ lấy phương pháp của Nhị-​dương mà chữa ; thấy hiện ra chứng “CÁCH” biết là kết tại Tam-​dương, nên lấy phương pháp của Tam-​dương để chữa.
(3)-. Về thân thể con người, bên ngoài là Dương, bên trong là Âm ; VỊ là dương, THẬN là âm. Chứng SƯNG này nó lọt vào bên trong thân hình, bên ngoài Tạng phủ, và ở vào chỗ trống rỗng của Vị với Thận cách nhau.
-- THẠCH-​THỦY : tức là Thận-​thủy, Thận là cửa ngỏ của Vị. Cửa ngỏ không thông lợi, nên tụ lại ở đó mà thành bịnh. Chứng này lệch nhiều về bên Thận-​tạng, cho nên mới là nhiều âm ít dương và THỦNG ở Thiếu-​phúc.
(4)-. Nhị-​dương tức là Dương-​minh VỊ-​khí. “TIÊU” là một chứng “khát” : uống vào bao nhiêu cũng hết. Bởi vì Dương-​minh khí kết nên cái chất âm-​dịch của Thủy cốc không sinh ra được, mới gây nên chứng TIÊU-​KHÁT (chứng này có nhiều nguyên nhân, sẽ giải rõ thêm ở dưới ).
(5)-. Tam-​dương : là Thái-​dương Bàng-​quang. Thái-​dương là một cơ quan chủ hóa sinh ra khí ; mà khí đó gốc từ Bàng-​quang, do “nội cách” mà truyền ra “hung-​hiếp” ; lại do hung hiếp mà đạt ra phu biểu. Nếu dương khí kết thời Cách-​khí không thông. Phía trước “nội-​cách” nhằm vào chỗ “bí-​môn” của Vị-​quản. Vì cách khí nghịch lên, nên sự ăn uống cũng bị nghẽn tắc không thông, nên gọi là bịnh “CÁCH”.
(6)-. Tam-​âm tức là Túc Thái-​âm TỲ. Tỳ là một cơ quan chuyển vận. Vì Tỳ-​khí kết, nên những chất nước vào vị không bố tán ra được, thành chứng THỦY-​DỊCH.
(7)-. Nhất-​âm Nhất-​dương tức là Quyết-​âm với Thiếu-​dương.
Quyết-​âm Phong-​mộc chủ về khí, mà nhờ được sức hỏa hóa của Thiếu-​dương. Phong với Hỏa, hai khí kết lại, thời kim-​khí sẽ bị thương,vì thế nên gây chứng HẦU-​TÝ (HẦU là cuống họng, TÝ là đau hoặc vít nghẽn)—tức là chứng đau trong cuống họng.
-------------------------------------------
PHỤ ÁN : về chứng “TIÊU” ở đây chỉ nói Hai-​dương kết gọi là TIÊU. Nhưng ở thiên MẠCH YẾU TINH VI LUẬN lại có nói : “do chứng ĐẢN thành ra Tiêu-​trung”.
-- thiên KỲ BỊNH LUẬN nói :”….chuyên thành chứng TIÊU KHÁT….”
-- TÀ KHÍ TẠNG PHỦ BỊNH HÌNH THIÊN ở Linh-​Khu có nói: “ ….tiêu, bản….”
-- THIÊN KHÍ HUYẾT LUẬN lại có nói các chứng : “ Phế tiêu, Cách tiêu…” khác nhau. Đem mấy thuyết trên đây hợp với thuyết “TAM-​TIÊU” của đời sau, thời biết 5 tạng đều có chứng TIÊU-​ĐẢN. như : về Thượng-​tiêu, thời một tên gọi là CAO-​TIÊU, một tên gọi là CÁCH-​TIÊU.
* BỊNH CƠ nói : Thượng tiêu tức là Phế. Uống nước nhiều mà ăn ít, đại tiện như thường mà tiểu tiện trong và lợi. Đó là TÁO ở thượng-​tiêu.Về phép trị liệu nên thấm thấp và nhuận táo. – Lại nói : về chứng CAO-​TIÊU, lưỡi đỏ và nứt, khát quá đòi uống nước luôn.
-- Lưu-​Hà-​Gi­ang nói : “uống nước nhiều mà tiểu tiện nhiều, gọi là TIÊU-​KHÁT”. Đó là chỉ về chứng ở Thượng-​tiêu mà nói.
-- Trần-​Vô-​Thạch nói: “bịnh tiêu khát thuộc về TÂM cho nên Tâm phiền, khiến Tâm-​hỏa tán mạn, khát muốn uống nước, các bộ mạch đều “NHUYỂN, TÁN” ; hoàn toàn là một chứng khí thực, huyết hư….” . Đó cũng là nói về Thượng-​tiêu.
Nay xét, thiên KHÍ HUYẾT LUẬN ở Tố-​Vấn nói: “Tâm di nhiệt lên Phế, gây thành chứng CÁCH-​TIÊU”.
-- Thiên TÀ KHÍ TẠNG PHỦ BỊNH HÌNH nói :”Tâm mạch VI-​TIỂU là chứng TIÊU-​ĐẢN…” và “Phế-​mạch VI-​TIỂU là chứng TIÊU-​ĐẢN…” xem đó thời bịnh này chính là do khí ở Thượng-​tiêu và kiêm cả Tâm, Phế chứ không riêng gì một Phế.
-- Đông-​Viên nói : “ về bịnh CÁCH-​TIÊU, dùng bài Bạch-​Hổ Nhân-​sâm thang để điều trị”.
* Về chứng TRUNG-​TIÊU, có khi lại gọi là TIÊU-​TRUNG hoặc NỘI-​TIÊU.
-- BỊNH CƠ nói : bịnh Tiêu-​trung thuộc về VỊ. : khát mà muốn ăn đều nhiều, tiểu tiện đỏ hoặc vàng. Vì nhiệt gây nêu TIÊU-​KHÁT, nên biết là bịnh tại Trung-​tiêu. Nên dùng thuốc HẠ (tức là cho tháo ra đường đại-​tiện).
-- Trần-​Vô-​Thạch nói : “Tiêu-​trung là một chứng TỲ-​ĐẢN. nhiệt quá nhiều nên thành TIÊU-​TRUNG.”
-- Sách TỤ-​CHÂN-​PHƯƠNG nói : “ chứng nội-​tiêu do nhiệt quá ở bên trong mà gây nên. Tiểu tiện nhiều hơn lượng nước uống vào – uống vào một phần, tiểu ra hai phần – mà lại không khát. Vì hư quá nên hơi thở ngắn”.
-- Lưu-​Hà-​Gi­ang nói: “uống ăn nhiều mà không khát lắm, hoặc tiểu tiện đi vặt luôn mà thân thể hao mòn gầy còm, gọi là TIÊU-​TRUNG”.
-- Đông-​Viên nói : “bịnh trung-​tiêu, bịnh nhân ăn ngon và nhiều mà lại gầy mòn, tự hãn, đại tiện rắn, tiểu tiện đi vặt luôn”.
-- Vương-​Thúc-​Hòa nói : “ miệng khô ráo, uống nước nhiều, ăn nhiều mà vẫn đói, đó tức là chứng TIÊU-​TRUNG. Dùng bài Điều Vị Thừa Khí thang, hoặc Tam-​Hoàng-​Hoàn để điều trị.”
Nay xét : thiên MẠch yẾu tinh vi luẬn ở Tố-​Vấn nói “Đế hỏi : -- Chẩn được Vị-​mạch như thế nào ?
Kỳ-​Bá nói :”Mạch THỰC thời trướng, HƯ thời tiết.
Đế hỏi : Bịnh đã thành rồi lại biến ra thế nào ?
Kỳ-​Bá nói: Bịnh đã thành, sẽ biến thành chứng TIÊU-​TRUNG.
-- Lại xét : thiên THÔNG BÌNH HƯ THỰC LUẬN : “ Kỳ-​Bá nói: - phàm trị chứng TIÊU-​ĐẢN, THIÊN-​KHÔ, NUY-​QUYẾT, khí mãn phát nghịch…. Phần nhiều là tật bởi ăn nhiều chất cao lương”.
-- Lại xét : thiên PHÚC TRUNG LUẬN :
Hoàng-​Đế hỏi : -- Phu tử thường nói chứng Nhiệt-​trung, Tiêu-​trung, không nên ăn những chất cao lương và uống các thứ phương-​thảo, thạch dược, sẽ phát điên, phát cuồng. Nghĩ như, mắc chứng nhiệt-​trung, tiêu-​trung phần nhiều là hạng người phú quý. Giờ cấm họ không cho ăn những thứ ấy, làm sao vừa lòng họ và bịnh khỏi sao được ?
Kỳ-​Bá đáp : -- cái khí chất của phương thảo, thạch dược phần nhiều mạnh tợn. Vì mạnh tợn nên khí của nó cấp bách, không phải những người tâm tình hòa hoãn có thể uống được. Về bịnh khi đã mạnh tợn, mà lại uống thứ thuốc mạh tợn, hai đàng gặp nhau sẽ cùng xung đột. Nếu xung đột sẽ làm thương TỲ, Tỳ-​thổ mà ghét Mộc…. uống thuốc ấy vào, đến ngày Giáp-​Ất sẽ khó toàn”.
-- Lại trong thiên KỲ BỊNH LUẬN :
Hoàng-​Đế hỏi : -- Có người mắc bịnh trong miệng cứ thấy có vị ngọt, là vì sao ?
Kỳ-​Bá đáp : -- Đó là do 5 khí ràn lên, gọi là TỲ-​ĐẢN. Nguyên nhân do 5 vị ăn vào miệng, chứa ở Vị, Tỳ giúp việc chuyển du bao tinh khí tân dịch đều ở Tỳ, nên khiến miệng ngọt. Bịnh đó do các thức ăn ngon béo gây nên. Bịnh nhân tất là người chuộng ăn các thức ngọt và béo. Chất béo gây nên “nội-​nhiệt” , chất ngọt gây nên “Trung-​mãn”. Cho nên khí ấy rắn lên, biến thành TIÊU-​KHÁT.
Xem đó thời như thiên này nói “Nhị-​dương kết gọi là TIÊU”. Chính là là chỉ về Trung-​tiêu. Và cũng tức là bịnh thuộc TỲ-​VỊ.
* Về Hạ-​tiêu, một tên là TIÊU-​THẬN, một tên là THẬN-​TIÊU, lại một tên nữa là CƯỜNG-​TRUNG.
-- BỊNH CƠ nói : “Bịnh Tiêu-​thận, khi mới phát là chứng CAO-​LÂM (tiểu tiện nhỏ giọt, nước tiểu như chất dầu mở). Khi bịnh đã thực hiện, sắc mặt sạm đen, thân thể gầy còm, hai tai khô đét, nước tiểu đục và có lẫn chất mỡ. Về phương pháp liệu trị nên dưỡng huyết và làm cho chia sự trong đục. dần dần sẽ khỏi”.
-- Trần-​Vô-​Thạch nói : “Bịnh Tiêu-​thận, thuộc về THẬN. Nguyên nhân do thời kỳ tuổi trẻ chời bời quá độ, đến khi đứng tuổi, dùng nhiều các thứ thuốc có chất kim-​thạch, khiến cho chân-​khí bị suy tán. Gây nên chứng miệng khát, tinh dịch tự tiết ra, không uống nước mà tiểu nhiều….”
-- Lưu-​Hà-​Gi­ang nói : “ Uống nước luôn miệng, bắp đùi gầy còm, mà tiểu tiện có lẫn chất mỡ, gọi là THẬN-​TIÊU”.
-- Lý-​Đông-​Viên nói : “chứng Hạ-​tiêu, phiền khát, đòi uống nước, vành tai khô đét, tiểu tiện ra như mỡ….”
-- Vương-​Thúc-​Hòa nói: “Bực dọc, uống nước, khát luôn…. Đó là chứng THẬN-​TIÊU. Nên cho uống bài LỤC VỊ ĐỊA HOÀNG HOÀN”.
-- Tụ-​Chân-​Phương nói : “Cường-​trung là một chứng Dương-​hành cứng lớn, không gi­ao cấu mà tinh-​khí tự tiết ra.”
Lại nói : “Thận thực, thời tiểu mà không khát, tiểu tiện tự lợi, gọi là Thận-​tiêu, tức cũng là NỘI-​TIÊU. Về phương pháp liệu trị : nên nén Tâm-​hỏa và tư dưỡng Thận-​thủy.”
Lại xét LINH-​KHU có nói : “ Thận-​mạch VI-​TIỂU là chứng Tiêu-​đản…” và “Can-​mạch VI-​TIỂU là chứng Tiêu-​đản..” . và đó chính cũng là chứng HẠ-​TIÊU.
Lại xét TỤ-​CHÂN-​PHƯƠNG nói : “Con người có Thận, cũng như mạch có gốc”. Cho nên nếu Thận mắc bịnh, thời trước phải hình dung tiều tụy, dù có sự tư-​dưỡng cũng không sao bóng loáng, cho nên hể mắc chứng TIÊU-​KHÁT đều do Thận-​kinh mắc bịnh. Nguyên nhân đều do lúc thiếu-​tráng không tự bảo dưỡng, tình dục quá độ, ăn uống không chừng, lại uống các thứ đan-​thạch…. Khiến cho Thận-​thủy khô kiệt, Tâm-​hỏa bốc nóng, Tam-​tiêu khô đét, 5 Tạng háo kiệt, do đó sinh ra chứng khát và lợi…” . Đó là nói Tam-​tiêu đều gốc ở THẬN.
-- THÁNH TỂ TÔNG LỤC lại nói : “nếu chữa truyền thành chứng NĂNG-​THỰC (ăn ngon và nhiều), tất phát ra chứng NÃO-​THƯ (mụn ở đầu óc), BỐI-​THƯ (mụn ở lưng). Nếu không truyền thành chứng Năng-​thực thời sẽ truyền thành chứng TRUNG-​MÃN, CỔ-​TRƯỚNG… đều là chứng khó chữa. Khiết-​Cổ-​Lão-​Nhân chia ra để chữa :
a)- Năng-​thực mà khát : cho uống bài BẠCH-​HỔ gia Nhân-​sâm thang.
b)- không Năng-​thực mà khát : cho uống bài BẠCH-​TRUẬT tán bột gia Cát-​căn.
Trở lên mà nói về một chứng “TIÊU”, mà đầu mối phức tạp như vậy ; Y-​giả nên tinh tế lắm mới được.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Âm “BÁC” Dương “BIỆT” là mạch có thai (1) ; âm-​dương đều hư, sẽ sinh chứng TRƯỜNG-​TIẾT và chết (2) .
Dương xen vào Âm sẽ thành chứng HÃN (3) ; âm “HƯ” dương “BÁC” sẽ thành chứng BĂNG (4) .
(1)-. “BÁC” là hình dung luồng mạch bật mạnh trên tay. “BIỆT” là biệt lập, khác hẳn. – “Âm Bác” là nói : mạch ở Xích-​bộ (thuộc âm) bật mạnh trên tay ; “Dương Biệt” là nói mạch ở Thốn-​Khẩu khác hẳn, như mạch ở một tay người khác, không còn liên lạc gì với nhau. Chẩn thấy mạch như vậy chủ về có thai.
(2)-. Âm dương ở câu này là nói về mạch ở Thông-​bộ và Xích-​bộ.
Ở con người, phàm dinh, vệ, khí, huyết đều do cái khí của Thủy-​cốc mà gây nên. Vị là một cơ quan thụ nạp. Trường (ruột) là một cơ quan truyền đạo. Tới khi âm dương đều hư mà lại giảm mất cái gốc của sự tư-​sinh (giúp sống, tức thủy-​cốc), cho nên khó lòng sống được. Nên nói mắc chứng TRƯỜNG-​TIẾT (đại tiện nát hoặc tháo).
(3)-. HÃN là âm dịch (một chất lỏng thuộc âm), nhờ sự tuyên phát của Dương-​khí mới có thể thấm nhuần ra khắp da lông. Nếu mạch về Thốn-​bộ (dương) ĐỘNG-​SÁC, lại xen vào Xích-​bộ (âm), sẽ thành ra HÃN. Vậy nên biết : Hãn do dương khí xen vào âm-​dịch, mà mạch cũng thành Dương-​mạch xen vào Âm-​bộ vậy.
(4)-. “BĂNG” tức là BĂNG-​HUYẾT ; huyết từ trong chảy tháo ra. Sở dĩ gây nên chứng này là do dương thịnh âm hư, dồn huyết đi càn mà gây nên.
Án : thuộc về chứng huyết-​băng của đàn bà, huyết đó do Bào-​lạc-​cung mà ra. Huyết hạ hành đã lâu khiến đường đi như đã thuộc ; huyết ở bản-​cung thiếu ít, khiến tất cả huyết ở 12 kình đều theo một đường lối ấy mà tiết lậu ra. Nhưng Bào-​lạc-​cung lại “nệ” vào Thận, mà bên trên thông với Tâm. Cho nên chứng này đối với 2 kinh Tâm, Thận rất có quan hệ, vậy nên mới hiện ra cái mạch trạng “Âm hư, Dương bác”.
Thiên NUY LUẬN nói rằng : “bi ai quá độ thời Bào-​lạc tuyệt. bào-​lạc tuyệt thời dương khí sẽ động ở bên trong, khi phát thời thành chứng BĂNG”.
Trong sách THI-​HIỆU-​LỤC của Lý-​Đông-​Viên, dùng các thứ thuốc dẩn kinh của 12 kinh, khiến cho huyết lại trở về 12 kinh. Rồi sau mới dùng thứ thuốc có sắc đen để chỉ huyết. Nếu dùng thuốc có sắc đen ngay mà không trước dùng thuốc dẫn kinh thời bịnh sẽ khó khỏi.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Mạch ở Tam-​âm đều “BÁC” : tới nửa đêm ngày thứ 20 sẽ chết (1)
Mạch ở Nhị-​âm đều “BÁC” : tới lúc mặt trời lặn ngày thứ 13 sẽ chết (2)
Mạch ở Nhất-​âm đều “BÁC” : tới ngày thứ 10 sẽ chết (3)
Mạch ở Tam-​dương đều “BÁC và CÔ” : tới ngày thứ 3 sẽ chết (4)
Mạch ở Tam-​dương Tam-​âm đều “BÁC”, Tâm mãn (đầy), âm dương ở phúc-​bộ phát ra hết, như có sự uất kết… tới ngày thứ 5 sẽ chết (5)
Mạch ở Nhị-​dương đều “BÁC” sẽ mắc bịnh ÔN, nguy. Không quá 10 ngày sẽ chết (6) .
(1)-. Tam-​âm tức là Thái-​âm. Thuộc về 2 bộ của TỲ và PHẾ ;đều bật mạnh trên tay, không có khí dương hòa. “HAI” là hàng đứng đầu của số chẳn ; “MƯỜI” là hàng số cuối cùng của âm , nửa đêm là thời kỳ âm vừa hết, mà khí Nhất-​dương sắp sinh. Thái-​âm là chí-​âm. Nhân cái khí “chí-​âm” mà tuyệt không có chút “sinh-​dương” nào, tất là chết.--. Chết về thời kỳ âm cực.—Đông-​Duy-​Viên nói : “Âm-​kết, Dương-​kết, là một danh từ chỉ định về khí âm dương bị kết”.
(2)-. Nhị-​âm tức là Thiếu-​âm, mạch của Nhị-​âm đều BÁC, tức là mạch 2 bộ TÂM-​THẬN đều bật mạnh trên tay. Thiếu-​âm chủ về thủy-​hỏa, thuộc 2 khí âm dương. Thiên do số 1 sinh ra hành Thủy, Địa do số 6 hợp thành. Địa do số 2 sinh ra hành Hỏa, Thiên do số 7 hợp thành.
Ngày thứ 13 là số “thành” cuối cùng, mặt trời lặn là cuối cùng của một ngày ; do âm-​tạng của thủy-​hỏa nên chết về số “thành” và cuối cùng của ngày.
(3)-. Nhất-​âm tức là Quyết-​âm. Mạch của 2 bộ CAN và TÂM (bào lạc) đều bật lên. Ngày thứ 10 là cuối cùng của âm số. Quyết-​âm là nơi cuối cùng của khí âm. Chết về ngày đó là do cái khí cuối cùng và cái ngày cuối cùng của âm số vậy.
(4)-. Tam-​dương tức là Thái-​dương. “CÔ” là cô động, mạch vừa bật lên mà lại có vẻ cô-​động mạnh. Đó là cái trưng-​triệu Dương-​cực mà không còn một chút gì âm hòa. Thái-​dương với Thiếu-​âm cùng làm biểu lý, và đều chủ về khí Thủy-​hỏa. thiên do số 1 sinh ra hành thủy, địa do số 2 sinh ra hành hỏa. đó là cái “Dương-​phủ” thủy hỏa, cho nên chết về cái số “sinh” của thiên địa . – Ta lại nên nhận rằng : thiên chủ về “SINH”, Địa chủ về “THÀNH” ; cho nên bịnh ở Thái-​dương thời chết về “sinh số” mà bịnh ở Thái-​âm thời chết về “thành số”.
(5)-. Tam-​âm, Tam-​dương là cái khí của 5 hành. Hai khí âm dương cùng “bác kích” không hòa, cho nên hết cái số của 5 hành thời chết. – TÂM-​MÃN là do dương “bác” lên ở bộ phận trên ; có sự “uất kết” là do âm “bác” ở bộ phận dưới.
Phúc (bụng) ở vào bộ phận dưới, là nơi âm dương tương gi­ao với nhau. “phúc bộ phát ra hết….” tức là dương phát ra hết ở trên , âm phát ra hết ở dưới, mà không còn sự “hòa” hiện ra ở bộ phận giữa nữa.
Tiết này nói về âm dương mắc bịnh ở trên và dưới. Tiết dưới nói về âm dương mắc bịnh về Hàn và Nhiệt.
(6)-. Nhị-​dương tức là Dương-​minh, bịnh ÔN tức là SỐT RÉT và NÓNG. Âm dương ở con người, do cái khí thủy cốc của Dương-​minh mà ra. Nên Nhị-​dương đều “bác” thời tuyệt mất cái nguồn gốc sinh ra âm dương rồi. Âm không được dương điều hòa thời sinh ra bịnh HÀN ; dương không được âm điều hòa thời sinh ra bịnh NHIỆT. Giờ âm dương đã tuyệt thời là một chứng rất nguy. “CHÍN” là hàng cuối cùng của số Dương, “MƯỜI” là hàng cuối cùng của số Âm. Chết vào ngày thứ 10, tức là đúng vào thời kỳ âm dương đều hết.
Tiết trên nói mạch của Tam-​dương ở đầu, mạch của Tam-​âm ở tay ; đó tức là như “một” là “nhất quán”. Nếu 2 khí âm dương không quán thông với nhau, mà lại tự cùng “bác kích” (chọi, xung đột) lẫn nhau, thời sẽ gây nên chứng chết như vậy.
Tiết này nói : nhờ về khí dương của Vị-​quản để sinh nuôi âm dương của 5 tạng. Nếu 2 dương đều “bác” thời âm dương đều tuyệt, cũng là chứng CHẾT.,.
TIỂU DẪN ________________________________________________________________________
CHƯƠNG 8
LINH-​LAN BÍ ĐIỂN LUẬN
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Hoàng-​Đế hỏi rằng :
-- Xin cho biết 12 Tàng có những nhiệm vụ gì và quí tiện như thế nào ? (1)
Kỳ-​Bá thưa rằng :
- TÂM là một cơ quan Quân-​chủ, Thần-​minh do đó mà sinh ra (2)
- PHẾ là một cơ quan Tương-​truyền, trị tiết do đó mà sinh ra (3)
- CAN là một cơ quan Tướng-​quân, mưu lự do đó mà sinh ra (4)
- CHIÊN-​TRUNG là một cơ quan Thần-​sứ, hỷ lạc do đó mà sinh ra (5)
- ĐỞM là một cơ quan Trung-​chính, quyết đoán do đó mà sinh ra (6)
- TỲ-​VỊ là một cơ quan Thương-​lẫm (kho đụn), 5 vị do đó mà sinh ra (7)
- ĐẠI-​TRƯỜNG là một cơ quan Truyền-​đạo (đưa dẫn, bài tiết), sự biến hóa do đó mà sinh ra (8)
- TIỂU-​TRƯỜNG là một cơ quan Thụ-​thình (chứa đựng) hóa vật do đó mà sinh ra (9)
- THẬN là một cơ quan tác cường, kỷ-​xảo do đó mà sinh ra (10)
- TAM-​TIÊU là một cơ quan Quyết-​độc, thủy đạo do đó mà sinh ra (11)
- BÀNG-​QUANG là một cơ quan Châu-​đô, tân dịch chứa ở đó, khí hóa thời sẽ tiết ra (12)
Phàm 12 cơ quan ở trên, không nên để cho “tương thất” (13)
Cho nên, nếu chủ “minh” thời dưới yên. Lấy lẽ đó để dưỡng sinh thời sống lâu, trọn đời không bị đau ốm ; lấy lẽ đó để trị thiên hạ, thời thái bình (14) .
Chủ không minh thời 12 cơ quan sẽ nguy, sứ-​đạo (tức Tâm) vít lại, thân hình bị thương. Lấy lẽ đó dưỡng sinh thời sinh đau ốm ; lấy lẽ đó để trị thiên hạ thời rối loạn. Nên phải răn dữ lắm mới được (15) .
(1)-. Sáu Tạng chứa Thần (các chất vô hình), 6 phủ chứa vật (các chất hữu hình). Ở đây sáu tạng sáu phủ đều gọi là TÀNG nên mới có 12 TÀNG.
Chứa những thứ gì “thanh” (như thần-​khí) là quý ; chứa những thứ gì “trọc” (như vật thực) là tiện. trong 5 tạng, duy có Túc Thái-​âm là dung thụ thứ “trọc” nên TỲ-​VỊ mới là cơ quan Thương-​lẫm.
(2)-. TÂM (trái tim) vị ứng Nam-​phương, thiêng liêng sáng suốt nên làm cơ quan Quân-​chủ (tỉ như vị vua cai trị cả nước) ; vì thiêng liêng sáng suốt, nên chủ về “TÀNG THẦN” và nói “thần minh do đó mà sinh ra”.
-- Vương-​Tử-​Phương nói : Huyết tức là Thần-​khí ; Tâm tàng Thần. Tâm chủ mạch, các kinh mạch của 12 tạng phủ đều lấy Tâm làm chủ.
(3)-. PHẾ bộ vị rất cao, ở gần với Quân-​chủ, tỉ như vị Thủ-​tướng. Chuyên về việc tán bố âm dương, nên nói “trị tiết do đó sinh ra “ ( trị tiết cũng như hiệu lịnh).
(4)-. Can-​khí cấp, và “chí” về NỘ, nên làm một cơ quan như vị Tướng quân. – Nó chủ về cái khí Xuân-​sinh , còn ẩn phục chưa phát tiết ra hẳn, nên chủ về mưu lự (mưu kế, nghĩ ngợi).
(5)-. ĐỞM bẩm thụ cái khí cương nghị, phàm người có Đởm thời hay quyết đoán, nên làm cơ quan trung-​chính (ngay thẳng).
(6)-. CHIÊN-​TRUNG : tức cũng như cung thành của Quân-​chủ. Tâm chủ Bào-​lạc, bộ vị đều liên với Chiên-​trung. Chiên-​trung thay Tâm-​Bào-​lạc để thi hành mệnh lệnh. Tâm “chí” về HỶ nên “hỷ-​lạc do đó mà sinh ra.”
(7)-. TỲ với VỊ chủ về việc thâu nạp thủy cốc, nên mới làm cơ quan Thương-​lẫm (tỉ như kho đụn để chứa thóc lúa). Năm vị vào VỊ, TỲ chuyển du sinh khí ra để nuôi 5 tạng, nên nói : “5 vị do đó mà tiết ra”.
(8)-. ĐẠI TRƯỜNG ở phía dưới TIỂU TRƯỜNG. Tiểu-​trường chứa đựng thủy-​cốc do Vị truyền xuống, rồi lại do Đại-​trường truyền tống cặn bã ra ngoài, nên mới nói là cơ quan Truyền-​đạo, và sự biến hóa do đó mà ra.
(9)-. TIỂU-​TRƯỜNG ở phía dưới VỊ, chứa đựng lấy những vật thực do vị truyền xuống. hóa lấy tinh dịch, rồi tống bỏ cặn bã xuống ĐẠI TRƯỜNG.
(10)-. THẬN tàng vì “CHÍ”, chí lập thời hay tác cường (sức làm mạnh). Bên trong đã tác cường thời kỷ xảo sẽ tỏ rõ ra bên ngoài.
(11)-. TAM-​TIÊU chủ về KHÍ, Khí có hóa thời thủy đạo mới lưu thông, nên mới nói là cơ quan quyết độc (QUYẾT là khai cho chảy, ĐỘC là đường nước chảy).
(12)-. BÀNG-​QUANG là thủy-​phủ (là kho chứa nước), bao chất nước đều hội tụ ở đó. Cho nên là một cơ quan CHÂU-​ĐÔ (là nơi đô hội đông đúc). Thủy cốc vào VỊ, lọc qua chất nước dẫn qua Hạ-​tiêu, thấm vào Bàng-​quang. Nếu khí ở B.Quang có vận hóa, thời nước mới có thể dẫn xuống mà tiết ra ngoài.
(13)-. Mười hai cơ quan vừa nói trên kinh mạch đều cùng liên lạc gi­ao thông với nhau, không nên để “tương thất”(mất sự gi­ao thông).
(14)-. Năm tạng, sáu phủ, TÂM đứng làm chủ. Quân chủ có Thần-​minh (ý nói huyết mạch chạy đều thời 12 cơ quan đều yên ở chức vụ mình….) Theo lẽ đó để dưỡng sinh thời lo gì không sống lâu. Do cái ý nghĩa đó mà cai trị thiên hạ, thời vua giỏi tôi hiền, trăm quan đều làm tròn nhiệm vụ, lo gì thiên hạ không thái bình.
(15)-. Tâm thuộc quẻ “LY”, Ly nghĩa là sáng. Tâm là chủ cả một tấm thân. Nếu Tâm-​chủ không sáng thời 12 quan kia cũng đều bỏ cả chức vụ, còn yên sao được. TÂM-​BÀO-​LẠC là cơ quan thần-​sứ, thay quân chủ thi hành mệnh lệnh mà chủ về MẠCH. Mạch tức là huyết mạch, huyết tức là thần-​khí. Thần-​khí rối loạn thời huyết mạch ngừng đọng, sứ đạo sẽ bị vít lấp. Huyết khí đầy ở da, nóng vào thịt, thấm ra bì phu, mọc lông tóc, nhuận gân xương, dịu quan tiết (tức các khớp). Nếu huyết mạch không thông thời thân hình còn toàn sao được. Do lẽ đó, nên con người phải cẩn thận bảo vệ lắm mới được.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Cái đạo rất huyền vi, biến hóa thật vô cùng, ai biết tới gốc nguồn. (1)
Ở trong cõi mờ tối, ai người biết mấu chốt ? Lo nghĩ suốt đêm ngày, sao cho được nên hay? (2)
Cái số hoảng hốt, nảy ra từ hào-​ly ; cái số hào-​ly nảy ra từ độ lượng ; từ nghìn suy đến vạn, rồi càng suy càng lớn thêm mãi, cho tới khối thể cùng cực, thân hình mới đựơc chính (3) .
Hoàng-​Đế nói rằng :
-- Thiện lắm thay, Trẩm nghe cái đạo “tinh, quang” thực là cái đức lớn của bậc Đại-​thánh. Muốn làm cho tuyên-​minh đạo ấy, nếu không trai-​giới, chọn ngày tốt, không dám thừa nhận (4) .
ĐẾ liền chọn ngày tốt, để bài luận trên đây vào trong nhà LINH-​LAN (5) .
(1)-. Tiết này tiếp theo văn ở đoạn trên, nói : cái chí đạo tu thân, dưỡng sinh, suy tới bình trị thiên-​hạ thật rất huyền vi. Bởi cái Tâm con người, biến hóa vô cùng, nếu “chính” được Tâm, do đó để dưỡng sinh thời sẽ được sống lâu. Lại do đó để trị thiên hạ, thời thiên hạ sẽ thái bình. Trái lại, nếu Tâm ấy không chính, về dưỡng sinh cũng đã mắc phải tai ương, mà về trị thiên hạ, cũng thành ra rối loạn. Đó chỉ do có một “NIỆM” phát sinh rà thật ít ai biết tới được nguồn gốc…
(2)-. “mờ tối” ý cũng như huyền-​vi ; “mấu chốt” tức là chí đạo. “lo nghĩ” tức là lo nghĩ để suy xét cái đạo ầy ; biết đạo ấy tức là “nên hay”.
(3)-. “hoảng hốt” tức là chỉ về “Tâm-​thần” khi mới chớm nở, chưa biết thế nào là nhất định. Từ bắt đầu nó chỉ bằng hào ly (tức rất bé nhỏ), nhưng do đó mà đến không thể đo lường. Chỉ trong có hào ly mà tà hay chính đã phân, rồi suy ra đến vô cùng. Tâm có chính rồi thân hình mới được chính.
(4)-. “tinh” tức tinh khiết, “quang” tức sáng suốt. cái đạo “chính tâm, tu thân” rất tinh-​quang. Chỉ bậc Đại-​thánh mới thực hiện được. Do chính tâm tu thân rồi mới tới trị quốc, bình thiên hạ.
(5)-. “trai giới” tức là kính giữ cho được hoàn toàn “thành ý”.
LINH-​LAN là một cái nhà để chất chứa những “chí ngôn, chí luận” của các bậc Thần-​Thánh. Vì có câu này ở cuối, nên dùng làm tên bài ở trên đầu.,.
-- 0o0 --
TIỂU DẪN ________________________________________________________________________
CHƯƠNG 9
LỤC TIẾT TÀNG TƯỢNG LUẬN
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Hoàng-​Đế hỏi :
-- Trẩm nghe : Trời do cái tiết “sáu sáu” để làm nên một năm ; Người do cái số “chín chín” để “chế hội” ; tính ra Người cũng 365 tiết, để hợp với Trời-​đất đã lâu rồi. Nghĩa đó ra sao, xin cho biết ? (1)
Kỳ-​Bá thưa rằng :
-- Cái tiết “sáu sáu” và “chín chín” chế hội, là cốt để phân rõ “thiên độ” và ghi rõ “khí số” (2)
Thiên-​độ cốt là chỉ để đo sự vận hành của Nhật-​nguyệt ; Khí-​số cốt để ghi cái công dụng của hóa sinh (3)
Thiên là Dương, Địa là Âm ; Nhật là dương, Nguyệt là âm. Sự vận hành có phận-​kỷ, mỗi một chu có đường lối. Nhật vận hành được một độ, thời Nguyệt vận hành được 12 độ, mà còn lẻ nữa. Cho nên tính cả tháng thiếu tháng đủ, cộng 365 ngày mà thành 1 năm, chứa các khí “doanh, sóc, hư” lại mà thành tháng nhuận…. (4)
Lập cây thẳng làm nêu để nhận phương hướng, tính kỹ những giờ khắc thừa… Đó là hoàn tất cái nhiệm vụ THIÊN ĐỘ (5)
(1)-. Cái tiết “sáu sáu” …. Do 10 CAN chủ về Thiên. Thập can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Qúy). Sáu mươi Giáp-​Tý là một CHU (tức một vòng, một lượt, một tiết). “sáu sáu” tức sáu lần sáu mươi (giáp tý) là 365 ngày, hợp thành 1 năm.
Ở con người do số “chín chín” để “chế hội”…. tức là con người có 9 khiếu, 9 Tàng để hội họp mà sinh ra 5 khí.
Theo về số 3 như ở dưới nói : người ta có 9 khiếu 9 tàng ; Địa có 9 châu, 9 dã. Do hợp số 3 mà thành Thiên, hợp số 3 mà thành Địa, hợp số 3 mà thành Nhân (người) v.v….
(2)-. Mỗi năm có 365 ngày, mà trời có 365 độ ; (từ “độ” tức là độ của Trời ; chữ độ cũng tựa như thửa, như đời nay đo quả đất cũng tính theo độ.)
(3)-. CHU THIÊN (1 vòng trời) có 365 độ. Nhật mổi ngày vận hành được 1 độ, suốt năm vận hành được một chu thiên. Nguyệt mỗi ngày vận hành được 13 độ , suốt một tháng trời vận hành được 1 chu thiên. Đó là lấy cái độ số của Trời để ghi sự vận hành của Nhật-​nguyệt.
KHÍ SỐ : là nói về cái số “3” sinh ra 5 khí.
HÓA : tức là sự biến hóa của Âm-​dương.
Ở Trời thành cái tiết “sáu sáu” ở Đất và Người thành cái số “chín chín” đều là cái công dụng hóa sinh của âm dương cả.
(4)-. “sự vận hành có phân kỷ” tức là nói sự vận hành của Nhật nguyệt đều chưa rõ “phận dã”(khu vực, đất đai nơi nhật nguyệt vận hành qua). – Đường lối cũng là đường lối vận hành của nhật nguyệt như Nam-​đạo, Bắc-​đạo v.v….
Án : lịch pháp chu thiên có 365 độ và ¼ độ. Đất tả toàn (vòng về tay trái) một ngày một đêm thời vận hành được một chu thiên và hơn ra một độ. Nhật-​nguyệt đều hữu hành. Cứ một ngày đêm, nhật vận hành được một độ, nguyệt vận hành được 13 độ và 1/7 trong 19 phần của độ. Nên mới nói rằng “có lẻ”.
Nhật một năm thời một chu thiên ; Nguyệt 29 ngày có lẻ thời một chu thiên. Vì là 29 ngày cỏ lẻ nên mới sinh ra tháng đủ tháng thiếu . Mỗi năm có 5 ngày lẽ gọi là “SÓC HƯ”, cho nên chỉ có 365 ngày. Lại có 5 ngày lẻ thuộc về “KHÍ DOANH” lại mà sinh ra tháng NHUẬN. Cho nên mỗi năm tính cả tháng nhuận tổng cộng được 365 ngày có lẻ.
Lại án : HÁN-​LUẬT CHÍ chép rằng : Nhật-​nguyệt và Ngũ-​tinh, từ phương Tây vòng quanh bầu trời đi về hướng Đông. Thiên đạo từ phương Đông mà về phương Tây. Một ngày một đêm nhật nguyệt theo trời chuyển về phương tây một chu thiên như kiến bò trên cối, cối chuyển một vòng. Mà nhật đi về phương Đông chỉ 1 độ, Nguyệt từ phương Tây đi về phương Đông được 13 độ. Nguyệt đi nhanh mà mỗi tháng gặp Nhật một lần, là một chu thiên. Do đó mỗi năm ngày ĐÔNG-​CHÍ và HẠ-​CHÍ, nhật vận hành có chia ra Nam và Bắc đạo. Mỗi tháng, ngày “thượng huyền” và ngày “hạ huyền” (mặt trăng vòng cong ngửa lên như cái cung để ngửa làThượng huyền, tức là từ rằm (15) đến mồng một (1). Mặt trăng vòng cong trở xuống như cái cung để úp là Hạ huyền (tức là từ 16 đến 30). Nguyệt vận hành có chia ra Nam và Bắc đạo.
(5)-. Đời Thượng-​cổ dùng cây (gậy) gỗ cao 8 thước chôn đứng thẳng để đo bóng mặt trời và để chia rõ Đông, Tây, Nam, Bắc. Lấy chu thiên 365 độ và lẻ ¼ độ, để suy tính sự vận hành có lẻ của Nhật nguyệt ; khí doanh 5 ngày có lẻ, sóc-​hư 5 ngày có lẻ… tính dồn cả lại, để cho trọn cái số ngày của 1 năm. Đó là tính hết về Thiên-​độ.,.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Hoàng-​Đế hỏi rằng :
--Trẩm đã được nghe Thiên-​độ rồi. Xin cho nghe KHÍ SỐ, hợp lại với nhau như thế nào ? (1)
Kỳ-​Bá thưa rằng :
-- Trời lấy “sáu sáu” làm tiết ; Đất lấy “chín chín” chế hội. (2)
Trời có 10 ngày, chọn 6 lần 10 ngày mà Chu-​giáp ; thời thành 1 năm . (3)
Những bậc Thông-​thiên đời xưa, biết được cái gốc về sự sống của con người là gốc ở âm dương. Cái khí đó ở đất thời thành 9 Châu ; ở Người thời thành 9 khiếu ; đều thông với “tam-​khí” (4)
Cho nên sinh ra năm mà khí có ba (5). Do ba mà thành Trời, do ba mà thành Đất, do ba mà thành Người. (6)
Ba mà nhân với ba, hợp lại thời thành chín, chín chia làm chín dã (khu vực) ; chín dã chia ra làm 9 Tàng. (7)
Cho nên ở con người, về hữu hình có 4 Tàng, về “Thần” có 5 Tàng hợp lại thành 9 tàng để ứng với 9 Dã ở trên.(8)
(1)-. Ở đây Hoàng-​Đế lại đem cái số “chín chín” hợp với cái số “sáu sáu” để hỏi.
(2)-. Trên kia Kỳ-​Bá bắt đầu lấy cái số chín-​chín của người để ứng với cái số sáu-​sáu của trời. Ở đây lại lấy cái số chín-​chín của Đất để hợp với cái số sáu-​sáu của Người.
(3)-. Trời lấy cái tiết sáu-​sáu mà thành một năm. Mười CAN chủ về Trời, cho nên nói :”Trời có 10 ngày”.
(4)-. Đây nói : cái số chín-​chín của Đất và chín-​chín của Người mà thông với cái tiết sáu-​sáu của trời , đều gốc ở âm dương. Âm dương là do cái “tam-​khí” của Ngũ-​hành sinh ra. Bởi thế nên lấy 9 Châu của đất, 9 khiểu ở người, đều thông với Thiên-​khí. Vì trời cũng có “tam-​khí” ấy, mà người cũng có “tam-​khí” ấy vậy.
(5)-. “Sinh ra năm” tức là nói Thập-​can của trời hóa sinh ra 5 hành của đất. “khí có ba” tức là nói cái khí “tam âm, tam dương” do ngũ-​hành sinh ra.
(6)-. Đây nói: lấy cái tam khí ấy, ba hợp với ba để thành sáu khí của trời, sáu khí của đất,và sáu khí của người.
Nói về 6 khí của Đất như : phía hữu Hiên-​minh là vị Quân-​hỏa ; phía hữu quân-​hỏa, lui một bộ, do Tướng-​hỏa cai trị ; lại tiến đi một bộ, do Thổ khí cai trị ; lại tiến đi một bộ, do Kim-​khí cai trị ; lại tiến đi một bộ do Thủy-​khí cai trị ; lại tiến đi một bộ do Mộc-​khí cai trị ; lại tiến đi một bộ do Quân-​hỏa cai trị…… đó là cái khí và địa vị của Địa-​lý ứng với 6 tiết.
Nói về 6 khí ở Người tức là cái khí của “tam âm, tam dương” như : mạch ở Nhân-​Ngh­inh một thịnh thời bịnh ở Thiếu-​dương ; 2 thịnh thời bịnh ở Thái-​dương ; 3 thịnh thời bịnh ở Dương-​minh – Mạch ở Thốn-​khẩu một thịnh bịnh ở Quyết-​âm ; 2 thịnh bịnh ở Thiếu-​âm ; 3 thịnh bịnh ở Thái-​âm….
Nói về 6 khí ở Trời như : sau Đông-​chí, được ngày Giáp-​tý thời Thiếu-​dương vượng ; lại được ngày Giáp-​tý thời Dương-​minh vượng ; lại được ngày Giáp-​tý thời Thái-​dương vượng ; lại được ngày Giáp-​tý thời Quyết-​âm vượng ; lại được ngày Giáp-​tý thời Thiếu-​âm vượng ; lại được ngày Giáp-​tý thời Thái-​âm vượng…. đó là lấy cái tiết sáu-​sáu của Trời để thành một năm.
(7)-. Ở đây lại nói: về 6 khí của Trời, Đất, Người. ba nhân với ba, hợp lại thành cái số chín-​chín . Cái số chín-​chín ấy chia làm chín Dã ở đất và chín Tàng ở người. Đó là lấy 9 Châu để hợp với chín khiếu, chín Dã để phối hợp với 9 Tàng, cho nên nói rằng : “chín dã phối với chín tàng”. Vì 9 châu ở đất thông với thiên-​khí. Tam-​khí của trời chia làm 9 dã. Đó là lấy cái số chín-​chín chế-​hội, mà hợp với tiết sáu-​sáu của người vậy.
Lấy 9 khiếu của người thông với trời (khí) . tam-​khí của trời chia làm 9 tàng. Thế là người lấy số chín-​chín chế hội mà hợp với cái tiết “sáu-​sáu” của người vậy (chế-​hội : tức phân phối sự hội họp).
(8)-. “Bốn Tàng hữu hình” tức là tàng chứa vật hữu hình (như thủy cốc v.v…) “Thần tàng” tức là những tàng chứa về Thần (tinh thần, thần khí). Những tàng chứa hữu hình như : Vị, Đại-​trường, Tiểu-​trường, Bàng-​quang …. Những tàng chứa về thần như : Tâm tàng THẦN, Can tàng HỒN, Tỳ tàng Ý, Phế tàng PHÁCH, Thận tàng CHÍ.
Năm vị vào miệng, chứa ở Trường-​vị ; các chất tân dịch (nước mầu) chứa ở Bàng-​quang, để nuôi thần-​khí của 5 tạng. Cho nên lấy “hình tàng, thần tàng” hợp thành 9 tàng, để phối hợp với 9 dã, 9 châu của đất.
Án : trước nói : “người lấy số chín-​chín để chế-​hội” sau nói : “đất lấy số chín-​chín để chế-​hội”. bởi vì người là 9 Tàng, ở đất là 9 Dã ; thời NGƯỜI với ĐẤT đều có thể nói : ” lấy chín-​chín để chế-​hội vậy”.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Hoàng-​Đế hỏi rằng :
-- Trẩm được nghe cái tiết “sáu sáu” và cái số “chín chín” rồi. Trên kia Phu-​tử nói : “chứa khí… thành nhuận”. Vậy chẳng hay thế nào là KHÍ ? (1)
Kỳ-​Bá thưa rằng :
-- Năm ngày là một “hậu”, ba hậu là một “khí”, sáu khí là một “mùa”, bốn mùa là một năm…. Mà đều theo khí của mùa để làm chủ trị (2)
Năm vận cùng rập theo nhau, để cùng đi, cứ đến trọn cái tháng cuối năm, hết vòng rồi lại bắt đầu. Mùa đã lập, khí tán bố, như vòng không chổ nối. Về “hậu” cũng một khuôn phép ấy. (3)
Cho nên nói rằng : “ không biết sự “da-​lâm” trong một năm, sự suy hay thịnh của khí và hư thực bởi đâu phát sinh… không thể gọi là Lương-​công”. (4)
(1)-. Ba lần năm, mười lăm ngày làm một khí. Mỗi một khí “doanh” (đầy đủ) hai mươi một khắc có lẻ. Hợp các ngày “khí doanh, sóc hư” mà sinh ra “nhuận”. Cho nên nói : “chứa khí doanh nhuận”.
(2)-. NguyỆt lỆnh nói :” tiết Lập-​xuân, năm ngày bắt đầu gió Đông làm tan mặt nước đông đặc ; năm ngày thứ hai, chập-​trùng (loài sâu nằm co ẩn nấp trong hang) mới cựa ; năm ngày cuối cùng, cá nhảy lên mặt băng…” như vậy là “năm ngày là một hậu”. (chữ tiết hậu hay khí hậu… đều do đây mà ra). Ba lần năm là 15 ngày, thành một KHÍ, sáu khí 90 ngày làm một mùa. Tất cả 4, hợp 24 khí thành một năm. Nhân cái khí của 4 mùa, cứ theo đó làm chủ trị.
(3)-. Tiết này nói về “chủ tuế” của năm vận. Tỉ như :
--. Về những năm GIÁP-​KỶ thời Thổ-​vận làm chủ ;
--. Về những năm ẤT-​CANH thời Kim-​vận làm chủ ;
--. Về những năm BÍNH-​TÂN thời Thủy-​vận làm chủ ;
--. Về những năm ĐINH-​NHÂM thời Mộc-​vận làm chủ ;
--. Về những năm MẬU-​QUÍ thời Hỏa-​vận làm chủ ;
Theo sự duyên-​tập của 5 hành, đều làm chủ từng năm một. Trong một năm, cái khí nào làm chủ, thời làm chủ suốt cả 365 ngày. Cứ năm năm là một vòng , hết một vòng thời lại bắt đầu.
Trong một năm,lại chia ra cái mùa của năm vận nó làm chủ, để bổ túc cái khí của 5 hành. Năm khí cứ truyền lẫn nhau, như cái vòng không chỗ nào nối. Cái khí về từng hậu cũng theo như sự duyên tập năm năm một vòng của chủ-​vận.
(4)-. Mỗi năm có 6 khí “da-​lâm” (tức là cái khí ấy nó tới năm ấy). Về năm vận có sự tháu quá hay bất cập và khí có thịnh hay suy, do đó sự “thừa-​vũ hay thắng-​phục” bởi hư thực gây nên. Cái khí của năm thịnh hay suy chủ về tật bịnh của nhân dân sống hay chết. Cho nên nếu không biết khí vận thời không thể làm được Lương-​công (người thầy thuốc giỏi).
Án : Ở trên nói về 5 ngày là một “hậu”, theo thiên NGUYỆT-​LỆNH ở LỄ KÝ, sách LÃ THỊ XUÂN THU và ĐẠI MINH NHẤT THỐNG LỊCH, đều có chép một cách rõ ràng. Xin phụ lục dưới đây để duyệt giả biết được tường tất.
1)-. Tháng MẠNH-​XUÂN, về tiết Lập-​xuân, 5 ngày lúc bắt đầu, gió Đông làm tan nước đóng váng ; 5 ngày thứ 2 chập-​trùng mới cựa quậy ; 5 ngày cuối, cá nhảy lên khỏi mặt nước băng.
*Về tiết Vũ-​thủy : 5 ngày lúc bắt đầu, rái cá tế cá ; 5 ngày thứ hai, chim Hồng nhạn về ; 5 ngày cuối cỏ cây mới nẩy mầm.
2)-. Tháng TRỌNG-​XUÂN, về tiết Kinh-​trập : 5 ngày đầu, đào mới nở hoa ; 5 ngày thứ hai chim Thương-​canh (tu-​hú) kêu ; 5 ngày cuối chim ưng hóa làm chim kiu.
* về tiết Xuân-​phân : 5 ngày lúc bắt đầu, chim Huyền-​điểu (chim én) đến ; 5 ngày thứ hai sấm động, cây thược dược tốt ; 5 ngày cuối mới có chớp.
3)-. Tháng QUÍ-​XUÂN, về tiết Thanh-​minh : 5 ngày đầu Ngô-​đồng (cây Vông) mới nở hoa ; 5 ngày thứ hai chuột đồng hóa làm chim rẽ, mẫu-​đơn nở hoa ; 5 ngày cuối cầu-​vồng mới phát hiện.
* về tiết Cốc-​vũ : 5 ngày lúc bắt đầu bèo mới nở ; 5 ngày thứ hai, chim Minh-​cưu vổ cánh bay ; 5 ngày cuối, chim Đái-​thắng tới làm tổ ở cây dâu.
4)-. Tháng MẠNH-​HẠ, về tiết Lập-​hạ : 5 ngày lúc bắt đầu, giun đất kêu ; 5 ngày thứ hai, giun ở dưới đất mới bò lên ; 5 ngày cuối, dây bầu mới mọc.
* về tiết Tiểu-​mãn : 5 ngày lúc bắt đầu, rau khổ-​thái mới tốt ; 5 ngày thứ hai, các loài có lá mềm chết dần ; 5 ngày cuối lúa chín dần.
5)-. Tháng TRỌNG HẠ, về tiết Mang-​chủng (là măng mọc) : 5 ngày lúc bắt đầu, sâu bọ, bọ ngựa mới nở ; 5 ngày thứ hai, chim Khuyên-​cốc kêu ; 5 ngày cuối, chim Bách-​thiệt thôi không hót.
* về tiết Hạ-​chí : 5 ngày lúc bắt đầu, sừng hươu mới rụng ; 5 ngày thứ hai, ve mới kêu ; 5 ngày cuối, cây Bán-​hạ mọc, cây Mộc-​cận (cây dâm bụt) tốt .
6)-. Tháng QUÍ-​HẠ, về tiết Tiểu-​thử : 5 ngày đầu, Ôn-​phong (gió ấm) thổi đến ; 5 ngày thứ hai, dế làm tổ dưới vách ; 5 ngày cuối, chim ưng mới tập lượn.
*về tiết Đại-​thử : 5 ngày đầu, cỏ nát hóa làm đom đóm ; 5 ngày thứ hai, đất ẩm, oi bức ; 5 ngày cuối thường có mưa to.
7)-. Tháng MẠNH-​THU, về tiết Lập-​thu : 5 ngày đầu, gió mát thổi đến ; 5 ngày thứ hai, Bạch-​lộ (tức móc trắng) mới nhỏ xuống ; 5 ngày cuối, Hàn-​thuyên mới kêu.
* về tiết Xử thử : 5 ngày bắt đầu, chim ưng mới tế cá ; 5 ngày thứ hai, trời-​đất mới trong sáng và “hanh” ; 5 ngày cuối, lúa đã phơi khô.
8)-. Tháng TRỌNG THU, về tiết Bạch-​lộ : 5 ngày đầu, gió mạnh thường thổi đến, chim Hồng-​nhạn bay lại ; 5 ngày thứ hai, chim Huyền-​điểu bay về ; 5 ngày cuối, các loài chim để dành thức ăn.
* về tiết Thu-​phân : 5 ngày đầu, sấm mới thôi không động ; 5 ngày thứ hai, loài sâu đất mới chui vào tổ, Trân-​hỏa-​thảo mới nở hoa ; 5 ngày cuối, nước khan dần.
9)-. Tháng QUÍ THU, về tiết Hàn-​lộ : 5 ngày lúc bắt đầu, chim Hồng nhạn lai tân (tân : khách ; về tháng Trọng thu đã có một loại chim Hồng nhạn đến rồi, đến tháng này chim Hồng nhạn lại tới. Vậy loại đến trước là chủ, mà loại đến sau là khách, nên gọi là lai tân) ; 5 ngày thứ hai, chim Tước vào nước hóa làm con trai (sò) ; 5 ngày cuối, cúc mới nở hoa.
* về tiết Sương giáng : 5 ngày đầu, giống sài (loài sói) mới tế loài thú ; 5 ngày thứ hai, cỏ cây rụng lá; 5 ngày cuối. giống chập trùng mới ẩn nấp.
10)-. Tháng MẠNH ĐÔNG. Về tiết Lập đông : 5 ngày đầu, nước mới thành băng ; 5 ngày thứ hai, đất mới nứt nẻ ; 5 ngày cuối chim Trĩ bay xuống biến hóa làm loài Thận (tức Thận khí ; giải nghĩa quá dài, xin để về đoạn khác).
* về tiết Tiểu tuyết : 5 ngày lúc bắt đầu, cầu vồng thôi không xuất hiện ; 5 ngày thứ hai, khí đất bốc lên, khí trời giáng xuống ; 5 ngày cuối, mọi sự đều vít lấp mà thành mùa Đông.
11)-. Tháng TRỌNG ĐÔNG, tiết Đại tuyết : 5 ngày bắt đầu, nước băng càng cứng thêm, đất mới nứt to, chim Hạt dám kêu thâu đêm ; 5 ngày thứ hai, hổ mới gi­ao cấu ; 5 ngày cuối, rau vận (tức rau mân-​tưới) mới mọc, lệ chi (quả vải) mới nở hoa.
* về tiết Đông chí : 5 ngày bắt đầu, loài giun mới lên sâu ; 5 ngày thứ hai, sừng nai rụng ; 5 ngày cuối, nước suối mới đông.
12)-. Tháng QUÍ ĐÔNG, về tiết Tiểu hàn : 5 ngày lúc mới bắt đầu, chim Nhạn bay về phương Bắc ; 5 ngày thứ hai, chim Thước (tức Bồ-​các, Lành-​khách) mới làm tổ ; 5 ngày cuối, chim Trĩ mới kêu.
* về tiết Đại hàn : 5 ngày lúc bắt đầu, gà mới ấp ; 5 ngày thứ hai, chim mới bay vụt qua nhanh ;5 ngày cuối, nước đông đặc tới tận đáy.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Hoàng-​Đế hỏi :
-- Bắt đầu năm vận, quanh co như vòng không đầu mối. Vậy về “thái quá” và “bất cập” như thế nào ? (1)
Kỳ-​Bá thưa rằng :
-- Năm khí thay đổi, đều có cái “sở thắng”, “thịnh” hay “hư” xảy ra là cái lệ thường (2)
Hoàng-​Đế hỏi rằng :
--Thế nào là bình khí ?
Kỳ-​Bá thưa rằng :
-- Không sai với thường hậu là bình (3)
Hoàng-​Đế hỏi rằng :
-- Thế nào là thái-​quá, bất-​cập ?
Kỳ-​Bá thưa rằng :
-- Ở KINH đã có nói rồi (4) .
(1)-. Bắt đầu của năm vận từ Giáp-​Kỷ hóa Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ …. Hết 5 năm rồi lại bắt đầu, như vòng không chổ nối. Những năm mà 5 Hành-​Chủ đó, lại còn có sự thái quá và bất cập khác nhau.
(2)-. “Sở thắng” , cái thắng được (khắc) ; “sở bất thắng” (là cái không được thắng). “Vũ” : khinh phạm tới v.v.. cái khí của năm vận, cứ 5 năm một lần thay đổi. Cái năm thái quá thời nó không thắng được cái mình thắng, mà lại vũ cái mình bất thắng. Đến năm bất cập, thời nó sẽ thắng cái mình bất thắng, lại vũ cả cái mình sở thắng. Cho nên mới nói là đều có cái sở thắng.
-- Cái khí sở thắng, nếu không chăm giữ đức mình thời thành bỏ hư bản-​vị, sẽ bị bên ngoài nó thừa cơ mà vũ. Đó là lẽ thường của sự thịnh suy.
(3)- “THƯỜNG HẬU” tức là tiết hậu như thường, không thái quá, không bất cập.
(4)-. “KINH” tức là những bài ở trong kinh LINH-​KHU, như LỤC VI CHỈ…, CHÍ CHÂN…., YÊU LUẬN…
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Hoàng-​Đế hỏi :
-- Thế nào là “sở thắng” ?
Kỳ-​Bá thưa rằng :
-- Xuân thắng Trưởng-​hạ, Trưởng-​hạ thắng Đông, Đông thắng Hạ, Hạ thắng Thu,Thu thắng Xuân… đó là được cái thắng về 5 Hành ; nhân lấy cái khí đó đặt tên cho Tàng (1)
Hoàng-​Đế hỏi :
-- Sao lại biết là thắng ?
Kỳ-​Bá thưa rằng :
-- Cốt tìm ở cái khí của nó, nhưng phải bắt đầu từ mùa Xuân. Nếu khí chưa đến mà đã đến thì gọi là thái quá. Nó sẽ bách cái “sở bất thắng” mà lấn cái “sở thắng”. Như thế gọi là khí dâm không phân, tật bịnh sẽ sinh ra ở bên trong, lương-​công cũng không thể ngăn được (2) . Nên đã đến mà không đến, thời gọi là bất-​cập. Như thế thời cái “sở thắng” nó sẽ vọng hành, mà cái “sở sinh” sẽ thụ bịnh. Vì cái “sở bất thắng” nó sẽ bách đến nội thể. Nên gọi là KHÍ BÁCH (3) .
Ta cần phải cầu cái lúc khí nó đến. Cẩn thận để chờ cho đúng lúc, khí có thể cùng hẹn. Nếu trái cái thời hậu ấy, thời cái khí của năm vận sẽ không phân, tật bịnh sẽ sinh ra ở bên trong, dù lương-​công cũng không chữa được (4) .
(1)-. Đây nói về cái “sở thắng” của năm vận. Mùa Xuân ứng về hành Mộc, Mộc sẽ thắng Thổ ; mùa Trưởng-​hạ ứng về hành Thổ, Thổ sẽ thắng Thủy ; Đông ứng về hành Thủy, Thủy sẽ thắng Hỏa ; mùa Hạ ứng về hành Hỏa, Hỏa sẽ thắng Kim ; mùa Thu ứng về hành Kim, Kim sẽ thắng Mộc…. đó là được cái Chủ-​thời của 5 Hành mà tự làm “thắng”. Xuân hành mộc, hợp với Can. Hạ hành hỏa, hợp với Tâm. Trưởng-​hạ hành Thổ, hợp với Tỳ. Thu hành Kim, hợp với Phế. Đông hành Thủy, hợp với Thận. Đó là lấy cái khí của 5 Hành ở vào 4 mùa để đặt tên cho 5 Tạng.
(2)-. Mùa Xuân là bắt đầu của KHÍ. Thiên LỤC NGUYÊN CHÍNH KỶ LUẬN nói rằng :”Vận thái quá thời khí đó đến trước, vận bất cập thời khí đó đến sau. Đó là cái khí theo lẽ thường của Thiên-​đạo. Vận không hữu dư, không bất túc, thời gọi là CHÍNH-​TUẾ, tức là khi đó đến được đúng mùa”. Vì thế nên : mùa Xuân chưa đến mà khí Trời đã ôn hòa, đó là khí đến trước tức là vận thái quá. Cái khí chủ tuế mà thái quá, thời nó sẽ bách cái khí “kỷ sở bất thắng” và nó “vũ” cái khí “kỷ sở thắng”.
--. CHÍ CHÂN YẾU LUẬN nói rằng : “khí đến gọi là đến , khí phân gọi là phân. Đến thời khí đỒng, phân thời khí DỊ”. Đó là cái lẽ chính của trời đất. Nếu cái khí chủ về Tuế-​vận, chỉ có thái quá, dâm-​thắng mà không phân, thời tật bịnh sẽ sinh ra ở bên trong, dù Lương-​công cũng không sao chữa được.
(3)-. Mùa Xuân đã đến mà khí trời chưa ôn hòa thế là đã đến mà không đến, tức gọi là bất cập. Cái vận khí chủ-​tuế đã bất cập thời cái khí sở hắn nó sẽ đi càn, mà cái sở sinh sẽ mắc bịnh ; tức là cái sở bất thắng nó bách đến cái nội thể. Tỉ như chủ tuế là Mộc mà bất cập, thời cái mình sở thắng là Thổ-​khí nó sẽ đi càn, mà cái sở sinh ra mình là Thủy-​khí sẽ mắc bịnh. Cái khí của Mộc, Hỏa đã hư, thời cái mình sở bất thắng là Kim khí nó sẽ lấn vũ ; nên mới gọi là KHÍ-​BÁCH. Vì chủ khí bất cập, mà cái khí “sở thắng”, “sở bất thắng” nó cùng dồn lại để bức bách mà gây nên bịnh.
(4)-. Cầu là cầu cái khí của 4 mùa, trong cái lúc nó nên đến mà đến. Cẩn thận để đợi cái mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Tỉ như : cái khí của mùa Xuân có thể hẹn được là ÔN ; cái khí của mùa Hạ có thể hẹn được là NHIỆT ; cái khí của mùa Thu có thể hẹn được là LƯƠNG ; cái khí của mùa Đông có thể hẹn được là HÀN… Nếu trái lẽ thường đó, mà cái khí 5 hành chủ về các mùa, không phân ra được, thời sẽ sinh ra tật bịnh.
Án : Về đoạn nói về nghĩa “sở thắng” trên này đầu mối rất phức tạp. Theo chú giải trên đây, thời chưa được rõ lắm. Vậy lại xin giải nghĩa tổng quát như dưới :
Phàm nói là “THẮNG” tức là chỉ về sự tương-​khắc của 5 Hành. Như Xuân thuộc Mộc, Hạ thuộc Hỏa, Trưởng-​hạ thuộc Thổ, Thu thuộc Kim, Đông thuộc Thủy. Cho nên Xuân thắng Trưởng-​hạ, tức là Mộc khắc Thổ ; Trưởng-​hạ thắng Đông, tức Thổ khắc Thủy ; Đông thắng Hạ, tức Thủy khắc Hỏa ; Hạ thắng Thu, tức Hỏa khắc Kim ; Thu thắng Xuân, tức Kim khắc Mộc. Đó là 5 hành thời lấy về mùa để tương thắng, mà ở người thời lấy khí để đặt tên cho Tạng. Như Can thắng Tỳ, Tỳ thắng Thận, Thận thắng Tâm, Tâm thắng Phế, Phế thắng Can…. Nhưng muốn biết cái hậu về sự thắng đó, thời phải ngay từ trước tiết Lập-​xuân 15 ngày, đó là cái hậu lúc bắt đầu.lúc đó khí hậu chưa đến mà đã đến trước, ấy là khí HỮU-​DƯ ; ví phỏng Can-​Mộc hữu dư thời Phế-​kim bất túc. Kim đã bất túc thời sẽ không khắc được Mộc ; do đó Phế-​kim sẽ bất túc. Phế-​kim bất túc thời không thể khắc được Mộc, cho nên Mộc thái quá. Vì Mộc hữu dư, thời lại bách trở lại Phế-​kim, mà lấn sang Tỳ-​thổ. Cho nên nói rằng : “thái quá thời sẽ bách cái sở bất thắng, mà lấn cái sở thắng” …. Đó đều là cái khí của 5 Tạng cùng xung đột với nhau mà gây nên bịnh, nên mới gọi là KHÍ-​DÂM.
Khí hậu nên đến mà không đến, quá kỳ rồi mới đến, đó là khí bất túc, cho nên bảo là BẤT-​CẬP ; do đó cái sở thắng nó sẽ đi càn mà cái sở sinh sẽ mắc bịnh, cái sở bất thắng nó sẽ bách thêm. Lại như Can-​mộc khí ít, không chế được Thổ ; Thổ khí không còn kiêng sợ gì nữa, liền lấn tràn đi ; mộc do đó bị hiếp. Cho nên nói : “cái sở bất thắng đi càn” (Tâm cũng đồng thời mắc bịnh).
--. Khí của Can-​mộc không được quân bình, khí của Phế-​kim liền bách vào, cho nên nói : “ cái sở bất thắng bách lên”. Nhưng Mộc-​khí không được bình, Thổ với Kim cùng dồn lại để bách, dể gây nên bịnh nên mới gọi là KHÍ-​BÁCH.
Vậy nên, “mình” mà thắng được gọi là “sở thắng” ; cái nó khắc được mình thì gọi là “sở bất thắng”. nên ta cần phải “hậu” (chờ đợi) cái lúc khí đến. – Như “hậu” về năm, thời bắt đầu từ ngày Lập-​xuân. Hậu về khí thời bắt đầu từ “định kỳ” của 4 khí ; hậu về ngày, thời tùy ở từng ngày. Cho nên nói :“ cẩn thận để hậu, thời khí có thể kỳ hạn được”.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Hoàng-​Đế hỏi :
--. Có sự gì duyên tập chăng ? (1)
Kỳ-​Bá thưa rằng :
--. Khí của Trời, không thể nào vô thường. Nếu khí không duyên tập, tức là phi-​thường ; phi-​thường thời là biến (2)
Hoàng-​Đế hỏi :
--. Phi-​thường thời sẽ biến như thế nào ?
Kỳ-​Bá thưa rằng :
--. Biến đến thời mắc bịnh, sở thắng thời nhẹ, sở bất thắng thời nặng. Nhân đó mà mắc thêm tà khí thời sẽ chết. Cho nên không phải “thời” của nó thời bịnh nhẹ, đúng vào “thời” của nó thời bịnh nặng (3) .
(1)-. “Duyên tập” (lần lượt nối tiếp nhau) : Mộc nhờ Thủy mà vượng vào mùa Xuân ; Hỏa nhờ Mộc mà vượng vào mùa Hạ ; Thổ nhờ Hỏa mà vượng vào mùa Trưởng-​hạ ; Kim nhờ Thổ mà vượng vào mùa Thu ; Thủy nhờ Kim mà vượng vào mùa Đông… khí của 5 vận cùng duyên-​tập lẫn nhau để làm chủ trị.
(2)-. Cái khí của Trời 4 mùa thay đổi, tứ có kinh thường. Nhưng cái khí của 5 vận có “đức, hóa, chính lệnh, biến dị, tai sảnh” không giống nhau ; cho nên cũng có khi không duyên tập, tức gọi là “phản thường” (trái với kinh thường mà sinh ra biến dịch).
(3)-. 5 vận cùng duyên tập là cái kinh thường của khí. Nếu phản thường thời sẽ sinh biến dịch. Vậy mỗi khi cái khí biến thường xảy đến, thời dân sẽ mắc bịnh. Tỉ như : mùa Xuân, Phong-​mộc làm chủ ; nếu biến ra chứng “SẬU CHÚ” (đi tả gấp). đó là chủ khí là Phong-​mộc, mà biến khí là Thấp-​thổ ; biến khí bị chủ khí thắng được thời dân mắc bịnh nhẹ. Nếu lại biến làm “TÚC SÁI”, thời đó là chủ khí Phong-​mộc mà biến khí là Táo-​kim, biến khí sẽ là cái “sở bất thắng” của chủ khí ; do đó dân sẽ mắc bịnh nặng. Thế mà cảm thêm về tà khí nữa, còn sống sao được ? Vậy biết rằng mỗi khi cái khí biến dịch đến nơi, không đúng vào cái thời nó khắc ta thời bịnh nhẹ ; nếu đúng vào cái thời nó khắc ta thời bịnh nặng.
* LỜI GIẢI TỔNG QUÁT
Đoạn này nói về cái khí của năm-​vận, có khí không duyên tập sẽ gây nên tật bịnh ; sự nặng nhẹ, quan hệ sống chết đều ở đó.
Án : khí của Âm-​dương đều có ít nhiều khác nhau, nên mới gọi là Tam-​âm, Tam-​dương. Như nói: “hình có thịnh suy” tức là nói cái khí chủ trị của 5 Hành có thái quá và bất cập khác nhau. Cho nên lúc bắt đầu, nếu là hữu dư, thời bất túc sẽ theo, nếu là bất túc hữu dư sẽ theo. Biết đón trước, biết theo sau, thời cái khí đó có thể hẹn được. Nếu đã thừa mà lại thừa, đã thiếu mà lại thiếu…. thời là “phản thường” mà tật bịnh sẽ sinh ra…. Tỉ như Mộc lịnh thái quá, Mộc khắc Tỳ-​thổ, nhưng Phế-​kim đủ sức để chế lại, mà Tỳ-​thổ lại bị “sở bất thắng” của Can, thời bịnh tất phải nặng. Bịnh đã nặng rồi mà lại cảm thêm ngoại tà, thời tất phải chết. Cho nên: “ nếu khắc không phải lúc sở thắng thời bịnh nặng” . là theo nguyên tắc đó.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Hoàng-​Đế hỏi :
--. Trẩm nghe khó hợp mà có hình, nhân biến mà đặt tên. Cái vận của Trời-​đất, sự hóa của âm-​dương, đối với muôn vật, cái gì ít cái gì nhiều xin cho biết (1)
Kỳ-​Bá thưa rằng :
--. Loài thảo sinh ra 5 sắc, đến sự biến của 5 sắc, mắt không thể trông siết ; loài thảo sinh ra 5 vị, đến cái ngon của 5 vị, người ta không thể dùng siết (2)
Sự thị dục của các Tàng không giống nhau, mà đều có gi­ao thông với nhau (3) . Trời nuôi con người lấy 5 khí. Đất nuôi con người bằng 5 vị. 5 khí vào mũi chứa ở Tâm-​Phế ; khiến cho 5 sắc sáng sủa, tiếng nói rõ ràng. 5 vị vào miệng, chứa ở Trường-​Vị. Vị có nơi chứa, để nuôi 5 khí. Khí hòa sẽ cùng sinh tân dịch thấm nhuần ; “thần” do đó sẽ sinh ra (4) .
(1)-. Đoạn này lại nói về khí Đất với khí Trời cùng hợp lại mà sinh ra muôn vật có hình. Thiên NGŨ THƯỜNG CHÍNH LUẬN nói rằng : khí bắt đầu mà sinh hóa, khí tan ra mà có hịnh, khí bố tán nên sự phồn dục, khí kết thúc thành ra tượng biến. Nhưng mà cái sự giúp ích của 5 vị, sự sinh hóa có hậu bạc, sự thành thực có nhiều ít…. Sau trước không giống nhau. Bởi ở trời là khí ở đất thành hình. Hình với khí cùng hợp mà hóa sinh muôn vật. Vật sinh ra gọi là HÓA ; vật đến cực gọi là BIẾN ; sau khi vật biến đã thành, bấy giờ mới định danh được.
(2)-. LOÀI THẢO : tức là chỉ về loài ngũ-​cốc, loài ngũ thái, với các quả của loài mộc v.v…. bởi trời theo số “3” sinh ra hành Mộc, cho nên trước nói loài thảo mộc, mà sau mới nói đến côn trùng vạn vật, năm sắc, đại khái như sắc xanh, sắc vàng, sắc trắng, sắc đỏ, sắc đen v.v…. năm vị như là vị chua, cay, đắng, mặn, ngọt v.v…
(3)-. Đây nói sự thị dục của con người không giống nhau, mà 5 vị nó đều theo về cái Tạng ưa thích của nó. Như vị đẮng trước vào Tâm, vị chua trước vào Can, vị ngỌt trước vào Tỳ, vị CAY trước vào Phế, vị MẶN trước vào Thận.v.v… Năm khí vào mũi chứa ở Tâm-​Phế. Năm vị vào miệng để nuôi 5 khí, cho nên nói rằng có sự liên lạc gi­ao thông với nhau.
(4)-. 5 khí tức là TẢO (hôi), TIÊU (hắc), HƯƠNG (thơm), TINH (tanh), HỦ (húc, mục nát). Ở trời gọi là khí, cho nên mới nói lấy 5 khí để nuôi người. Ở đất thời là sự biến hóa, hóa sinh ra 5 vị, cho nên mới nói là lấy 5 vị để nuôi người.
--. TRỜI : bộ vị ở rất cao, mà trùm ở bên ngoài Đất. Cho nên 5 khí do khiếu bên ngoài mà lọt vào trong Tâm-​Phế. Phế bộ vị ở trên thuộc về Dương ; Tâm làm cho tươi đẹp ở sắc và mặt. cho nên mới nói : “ khiến cho 5 sắc sáng sủa”. phế chủ về tiếng cho nên trên mới nói : “tiếng nói rõ ràng”.
--. ĐẤT : bộ vị ở dưới, mà ở vào bên trong Trời. cho nên 5 vị chứa ở Trường vị, để nuôi khí ở 5 Tạng. Khí nhờ được vị nuôi thời âm-​dương hòa mà sẽ tương sinh với nhau. Phàm các thứ thủy cốc đều ăn vào miệng, nó có 5 vị, tân dịch đều chia ra các mạch. Khí đã hòa, tân dịch đã đầy đủ, cái “THẦN” của 5 Tạng sẽ do đó mà sinh ra.,.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Hoàng-​Đế hỏi :
--. Hình tượng của các Tạng như thế nào ?
Kỳ-​Bá thưa rằng :
--. TÂM là cái gốc của sinh mệnh con người. Sự biến hóa cùa “Thần” do đó mà sinh ra. Vẻ tươi đẹp hiện lên mặt và đầy đủ khắp huyết mạch. Nó là kinh Thái-​dương ở trong Dương, thông với khí mùa Hạ (1) .
PHẾ là cái gốc của khí , “Phách” ký túc ở đó.Nó phát hiện ra ngoài lông, và đầy đủ ở trong bì phu. Nó là Thái-​âm ở trong Dương, thông với khí mùa Thu (2) .
THẬN là một nơi gốc của sự bế tàng, “Tinh” chứa ở nơi đó. Nó tốt đẹp lên tóc, đầy đủ ở trong xương. Nó là Thiếu-​âm ở trong Âm, thông với khí mùa Đông (3) .
CAN là cái gốc của sự làm lụng khó nhọc, “Hồn” ký túc ở đó. Nó tươi đep ra các móng tay chân và đầy đủ ở trong gân. Nó sinh ra huyết-​khí. Thuộc về vị là chua, thuộc về sắc là xanh. Nó là Thiếu-​dương ở trong Dương, thông với khí mùa Xuân (4) .
TỲ-​VỊ, TIỂU-​TRƯỜNG, ĐẠI-​TRƯỜNG, TAM-​TIÊU, BÀNG-​QUANG.. là cái gốc của kho đụn. “Vinh gởi ở nơi đó, gọi nó là một cơ quan như đồ dùng. Nó hóa được các chất cặn bã và du chuyển các vị vào hay ra. Nó tươi đẹp quanh môi và chung quanh miệng. Nó đầy đủ ra ở thịt. thuộc về vị là ngọt, thuộc về sắc là vàng. Nó là Chí-​âm thông với Thổ-​khí (5).
Tổng cộng là 11 Tàng, đều thủ quyết ở ĐỞM (6) .
(1)-. TÂM chủ về huyết, do Trung-​tiêu tiếp thụ lấy khí và chất nước lỏng, hòa ra sắc đỏ mà thành huyết để nuôi sống cho con người. Ở con người, không gì quí bằng nó, cho nên nói là cái gốc của sinh mệnh. Tâm tàng “Thần”, để ứng biến với muôn việc…
Mười hai “kinh mạch” ba trăm sáu mươi lăm “lạc” hết thảy khí huyết đều dồn cả lên mặt ; mà Tâm lại chủ về huyết mạch cho nên mới nói nó phát hiện lên sắc mặt. Vì thể chất của nó là mạch, cho nên mới nói “đầy đủ ra huyết mạch”. Nó thuộc về Hỏa, mà bộ vị ở rất cao, cho nên mới là Thái-​dương ở trong Dương, và thông với khí mùa Hạ, vì mùa Hạ chủ về Hỏa.
Tế-​Công nói : “Dinh là gốc, Vệ là lá. Dinh huyết là cái gốc để cho âm dương khí huyết sinh ra, nên mới là đáng quý.”
(2)-. PHẾ chủ về khí mà thành “Phách”, lại chủ về bì-​mao. Bộ vị ở cao mà thuộc về Âm, cho nên mới là Thái-​âm ở trong Dương và thông với khí mùa Thu, vì mùa Thu chủ về Phế.
(3)-. Thời tiết đến mùa Đông ; dương-​khí bế tàng, các loài sâu bọ ẩn nấp. THẬN chủ về Đông tàng. Cho nên mới gọi là gốc của sự bế tàng. Thận tiếp thu cái tinh dịch của 5 tạng, chứa đầy để chờ khi phân phát ra. Tóc là một chất thừa của huyết, do tinh hóa ra. Thận là âm-​tạng mà có khí tượng như một khí Dương ở trong quẻ Khảm, cho nên mới là Thiếu-​âm ở trong Âm, mà thông với khí mùa Đông. Vì mùa Đông chủ Thủy.
(4)-. CAN chủ về Gân. Phàm sự vận động khó nhọc đều phải nhờ gân, cho nên mới nói “sự khó nhọc”. Móng tay móng chân là một chất thừa của gân.
--. Can thuộc MỘC, bộ vị ở về phương Đông, nó là bắt đầu cho sự phát sinh, cho nên mới sinh ra huyết-​khí. Mộc vượng ở mùa Xuân, dương-​khí lúc đó mới bắt đầu sinh ra, nên mới gọi là Thiếu-​dương ở trong dương và thông với khí mùa Xuân, vì mùa Xuân chủ về Mộc.
(5)-. Túc Thái-​âm chuyên về sự thụ nạp cái chất “trọc” của loại thủy cốc, giữ các nhiệm vụ chuyển du ; Trường-​vị chủ về sự truyền thụ chất thủy cốc ; TAM-​TIÊU chủ về sự khơi chảy luồng nước ; BÀNG-​QUANG là một cái kho, để chứa các chất lỏng… cho nên tất cả đều tóm gọn là gốc của kho đụn. TỲ vận hóa các chất cặn bã, lọc lấy chất tốt để nuôi Ngũ-​tạng, rồi dồn các chất thừa xấu ra tiền hậu âm, nên mới gọi nó là “khí” tức là đồ dùng.
(6)-. Năm Tàng 6 Phủ cộng cả là 11 Tàng. ĐỞM chủ về Giáp-​Mộc, là một cơ quan đứng đầu của 5 vận 6 khí. ĐỞM khi thăng lên thời khí của tất cả 11 Tàng đều thăng lên, nên mới gọi là đều thủ ở Đởm.
Như trên kia có nói là “cầu cái khí” tức là nói đều quay cả về mùa Xuân. Tỉ như : chí của CAN là NỘ, chí của TÂM là HỶ, chí của TỲ là TƯ, chí của PHẾ là ƯU, chí của THẬN là KHỦNG…. mà cái nào cũng thủ quyết ở ĐỞM, Đởm tức là Xuân vậy.
KINH VĂN ________________________________________________________________________
Cho nên mạch ở NHÂN-​NGH­INH thấy một thịnh, thời bịnh ở Thiếu-​dương ; thấy 2 thịnh là bịnh ở Thái-​dương; thấy 3 thịnh là bịnh ở Dương-​minh; thấy 4 thịnh trở lên thời tức là CÁCH-​DƯƠNG (1)
Mạch ở THỐN-​KHẨU thấy 1 thịnh, thời bịnh ở Quyết-​âm ; thấy 2 thịnh thời bịnh ở Thiếu-​âm ; thấy 3 thịnh thời bịnh ở Thái-​âm ; thấy 4 thịnh trở lên thời tức là QUAN-​ÂM (2) .
Mạch ở NHÂN-​NGH­INH, KHÍ-​KHẨU (THỐN) đều thấy thịnh, gấp 4 lần trở lên thời gọi là QUAN-​CÁCH. Mạch về chứng Quan-​cách, nếu quá không thể hợp được với tinh khí của Trời-​đất, thời sẽ phải chết (3) .
(1)-. Đoạn này nói về 6 khí của Tạng-​Phủ, để ứng với cái tiết “sáu-​sáu” của Trời-​đất. Bên tả là NHÂN-​NGH­INH, bên hữu là KHÍ-​KHẨU. Dương khí từ bên Tả dẫn sang bên Hữu, âm khí từ bên Hữu mà dẫn sang bên Tả. Cho nên mới lấy Nhân-​ngh­inh để “nghe” cái khí của Tam-​dương ; Tạng phủ của con người, lúc nào cũng ứng với 6 khí của Tam-​âm, Tam-​dương.
--.”thấy 1 thịnh là bịnh Thiếu-​dương”… vì Thiếu-​dương chủ về cái khí Xuân thăng, Thái-​dương chủ về Hạ, Dương-​minh chủ về Thu. “4 thịnh trở lên” đó là nói về âm dương ở con người, chỉ có dương là thịnh hơn hết. – CÁCH-​DƯƠNG : vì dương chủ về bên ngoài, nhưng giờ bị ngăn (cách) hẳn ở bên ngoài, không được cái khí Trung-​kiên (ở khoảng giữa phát hiện ra làm liên lạc) của Tam âm để điều hòa khiến cho dương một mình thái quá.
(2)-. “THỐN KHẨU” tức là 2 bộ vị mạch của kinh Thủ Thái-​âm để nghe cái khí của Tam âm. Quyết-​âm chủ về cái khí Xuân-​sinh của Ất-​mộc, cho nên thấy “một thịnh” ở mạch Thốn-​khẩu là bịnh ở Quyết-​âm và Thiếu-​âm. Nói “từ 4 thịnh trở lên” là vì trong lúc đó, âm dương trong người chỉ có Thái-​âm là thịnh hơn hết.
--. Sở dĩ gọi là QUAN-​ÂM vì âm khí chủ ở bên trong, giờ bị đóng (quan) hẳn ở bên trong, không được cái khí trung kiên của Nhị-​dương để điều hòa… khiến cho Tam-​âm một mình thái quá.
--. Đây nói về bịnh mạch của Thốn-​khẩu và Nhân-​ngh­inh, để ứng với Tam-​âm, Tam-​dương của 4 mùa… tức là do sự không quân bình về 6 khí của 4 mùa khiến cho nhân dân cũng gây nên tật bịnh.
--. Cho nên ở thiên LỤC VI CHỈ của ĐẠI-​LUẬN có nói : “nên đến mà không đến, là “Lai-​khí” bất cập ; chưa nên đến mà đến là “lai khí” hữu dư”.
--. LINH-​KHU nói : “chẩn ở mạch Thốn-​khẩu, Nhân-​ngh­inh sẽ biết được âm dương “hữu dư” hay “bất túc”; bình hay bất bình”. Như thế không còn e ngại gì thiếu sót nữa.
--. Phàm gọi là “bình nhân” tức là người vô bịnh. Người vô bịnh mạch Thốn-​khẩu, Nhân-​ngh­inh đều ứng với 4 mùa.
--. Phàm nói “tương ứng” tức là mạch Thốn-​khẩu, với Nhân-​ng­inh bình đẳng. trong âm có dương, trong dương có âm không hề thiếu sót.
(3)-. Nói : “đều từ gấp 4 trở lên” tức là âm dương đều thái quá. –Trời có âm dương, Đất cũng có âm dương. Ở dưới dương thịnh, âm tinh kế vào ; ở dưới âm thịnh, dương khí kế theo. Âm dương thừa chế với nhau để cùng sinh hóa. Con người sinh ra ở trong khoảng gi­ao khí của trời đất, âm dương đều hòa, tức là vô bịnh. Nếu âm dương đều thịnh mà không hòa, thế tức là không đúng với sự “tinh khí thừa chế” của trời đất, còn sống sao được ?.
-- o0o --

4 nhận xét:

  1. you're actually a excellent webmaster. The site loading pace is incredible. It sort of feels that you're doing any unique trick.
    Furthermore, The contents are masterwork. you've done a great job in this matter!

    My blog post: get followers

    Trả lờiXóa
  2. Please let me know if you're looking for a article writer for your blog. You have some really great posts and I believe I would be a good asset. If you ever want to take some of the load off, I'd love to write some content for your blog in exchange for a link back to mine.
    Please blast me an email if interested. Many thanks!

    Have a look at my homepage ... get 100 followers on twitter
    Also see my page - need more twitter followers

    Trả lờiXóa
  3. I know this if off topic but I'm looking into starting my own weblog and was curious what all is required to get set up? I'm assuming having a blog like yours would cost a pretty penny?
    I'm not very internet smart so I'm not 100% certain. Any suggestions or advice would be greatly appreciated. Cheers

    Here is my homepage - free forex signals

    Trả lờiXóa
  4. You made some decent points there. I checked on the
    web for more information about the issue and found most people will go along
    with your views on this site.

    my site get followers

    Trả lờiXóa